-
California psychological inventory (CPI): Một đo nghiệm nhân cách được sử dụng rộng rãi dưới hình thức bảng câu hỏi tự khai, gồm 434 câu hỏi có/không, do nhà tâm lý học người Mĩ Harrison G. Gough xây dựng và công bố lần đầu năm 1956/57. Nó được thiết kế để đo những khái niệm dùng trong việc mô tả nhân cách hàng ngày, ban đầu có 18 điểm số, sau đó thêm 2 vào năm 1987, bao gồm các yếu tố như ưu thế, năng lực đạt vị thế, giao tiếp xã hội, sự đàng hoàng, tự tin trong tương tác xã hội, tự chấp nhận, độc lập, đồng cảm, trách nhiệm, xã hội hóa, tự kiểm soát, ấn tượng tốt, tính cộng đồng, tinh thần an lạc, bao dung, thành tựu qua sự tương hợp, thành tựu qua sự độc lập, hiệu năng trí tuệ, ý thức về tâm lí, và uyển chuyển/tính nữ/nam.
-
Cartesian self: [Trong hệ thống của triết gia, nhà toán học và khoa học người Pháp René Descartes] Là cái tôi, chủ thể tự biết mình. Cái bản ngã này có được niềm tin chắc chắn một cách căn bản, vì không thể hoài nghi việc mình đang suy nghĩ; hoài nghi chính là suy nghĩ. Từ đó, Descartes kết luận “COGITO ERGO SUM” (Tôi suy nghĩ do đó tôi tồn tại) và lập luận rằng mọi ý nghĩ trực giác của cái bản ngã có sự sáng rõ khi “tôi đang suy nghĩ” tất phải đúng ngang nhau, cho phép trực giác về những sự thật không thể nghi ngờ khác như sự tồn tại của Thượng đế và thế giới bên ngoài.
-
Casanova complex: Ham muốn của người nam có nhiều bạn tình, dẫn đến việc theo đuổi và quyến rũ phụ nữ giao phối mà không có quan hệ tình cảm hay cam kết. Phức cảm này được đặt theo tên của Giovanni Jacopo Casanova.
-
Case study: Một phương pháp nghiên cứu bằng khảo sát đi sâu, chi tiết một cá nhân, gia đình hay một nhóm xã hội. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong tâm lý học lâm sàng và các ngành khoa học xã hội nhân văn khác, thu thập nhiều kiểu dữ liệu (tâm lý học, sinh lí học, tiểu sử, môi trường) để hiểu bối cảnh, các quan hệ và hành vi của chủ thể. Trong các nghiên cứu trường hợp điểm về nhóm xã hội (có tổ chức), việc quan sát với vai trò người tham dự thường được sử dụng.
-
Castration complex: [Trong phân tâm học] Một phức cảm có liên kết chặt chẽ với phức cảm Oedipus, là những huyễn tưởng bị thiến của một đứa trẻ khi khám phá sự khác biệt về cơ thể giữa nam và nữ. Ở bé trai, nó gây lo âu về việc bị thiến và khởi đầu thời kỳ chậm phát triển tính dục; ở bé gái, nó được trải nghiệm như sự mất mát và khởi đầu ham muốn dương vật của người cha, cùng với việc chối bỏ hoặc bù trừ cho sự mất mát. Khái niệm này được Sigmund Freud đưa vào năm 1908 và phát triển trong trường hợp Bé Hans nổi tiếng.
-
Catatonic schizophrenia: Một trong những kiểu tâm thần phân liệt chính, đặc điểm cốt yếu là rối loạn tâm vận động (psychomotor disturbance) biểu hiện ở sự bất động về thể chất, đờ đẫn, hoạt động vận động quá mức hay quái lạ, phản ứng từ chối, câm nín và bắt chước máy móc vô nghĩa.
-
Categorical imperative: Một nguyên tắc đạo lí lần đầu phát biểu bởi triết gia Đức Immanuel Kant. Phát biểu đầu tiên thường được dẫn là: “Hãy chỉ hành động theo một phương châm mà mình có thể cùng lúc muốn nó trở thành một luật phổ quát”. Theo Kant, một phương châm là một qui tắc xử sự cá nhân. Mệnh lệnh tuyệt đối (vô điều kiện) có hình thức “Hãy luôn luôn làm Y” trong đó lí do để làm Y không phụ thuộc vào bất kì ham muốn nào, và nó có xu hướng không chỉ mang lí tính mà cũng được dùng như một nguyên tắc nền tảng của đạo lí.
-
Categories of thought: Trong tư tưởng của triết gia Đức Immanuel Kant, đây là 12 khái niệm căn bản của sự hiểu của con người mang tính thiết yếu cho việc diễn giải các trải nghiệm. Chúng bao gồm những ý tưởng nền tảng như sự hợp nhất, tính đa nguyên, thực tế, sự phủ định, tính nhân quả. Các phạm trù tư duy có tính tiên nghiệm và chỉ được áp dụng vào thế giới bề ngoài hay các hiện tượng, chứ không phải các sự vật-tự nó.
-
Catharsis:
- [Theo triết gia Hy Lạp Aristotle] Là sự thanh lọc cảm xúc, kết quả của việc xem diễn một vở bi kịch.
- [Trong phân tâm học] Là việc đem đến ý thức về những ý tưởng bị đè nén, đi kèm với việc biểu lộ cảm xúc, từ đó giải toả căng thẳng. Joseph Bruer và Sigmund Freud đã đưa khái niệm này vào phân tâm học như một kỹ thuật trị liệu nhằm tạo ra sự xả giải cảm xúc tiêu cực. Ban đầu liên kết chặt chẽ với thôi miên, nhưng Freud sớm bắt đầu sử dụng liên tưởng tự do thay thế. Thuật ngữ này cũng được sử dụng một cách lỏng lẻo trong tâm lý học để nói về việc giảm thiểu những kích động hung hãn do xem các chương trình bạo lực.
-
Causal schema: Một khái niệm được đưa vào năm 1958 bởi nhà tâm lý học Mĩ gốc Áo Fritz Heider để nói về tổ chức mang tính khái niệm của một chuỗi sự kiện trong đó một số được nhận dạng là nguyên nhân và những sự kiện khác là kết quả. Khái niệm này được phát triển thêm vào năm 1977 để bao gồm các dữ liệu nguyên nhân, dữ liệu chẩn đoán và dữ liệu tình cờ.
-
Central-tendency error: Lỗi đánh giá, phán xét không phản ánh chuẩn xác toàn bộ phạm vi những đánh giá có thể có, vì những sự đánh giá này bám chặt xung quanh điểm trung bình hay điểm giữa thay vì trải rộng một cách đa dạng.
-
Centration: Thuật ngữ được nhà Tâm lý học Thụy Sĩ Jean Piaget đưa vào để nói về xu hướng của ấu nhi ở mỗi thời điểm chỉ tập trung chú ý vào một khía cạnh, phương diện nổi bật của một vật, một tình huống, hay một vấn đề, bỏ qua những khía cạnh, phương diện khác có thể liên quan. Ví dụ kinh điển là thí nghiệm của Piaget về số lượng đồ vật, trong đó trẻ tập trung vào độ dài của hàng mà không tính đến mật độ hay việc không có vật nào được thêm vào hay bớt đi, nên đã kết luận số lượng đồ vật giảm bớt. Tiến trình phát triển nhận thức qua đó trẻ đi từ tập trung đơn diện đến một cách tri giác thế giới khách quan hơn được gọi là decentration.
-
Cerebral dominance: Xu hướng một trong hai bán cầu não ưu trội về một số chức năng. Ví dụ, bán cầu não trái ưu trội về chức năng ngôn ngữ và kiểm soát vận động tự nguyện ở người thuận tay phải, trong khi bán cầu não phải có lẽ ưu trội về các chức năng không gian và âm nhạc.
-
Chained reinforcement schedule: Một lịch trình củng cố kết hợp, trong đó sự củng cố được đưa ra sau khi một cơ thể (động vật hay người) đã hoàn tất hai hay nhiều lịch trình củng cố đơn liên tiếp. Đó là một tín hiệu cho cơ thể biết rằng lịch trình được tiến hành bất cứ lúc nào.
-
Channels of communication:
- [Trong Tâm lý học Xã hội của các nhóm] Là những con đường thường có được để chuyển giao thông tin từ người này sang một hay nhiều người khác trong nhóm hay tổ chức. Ví dụ, trong một cấu trúc truyền thông tập trung cao độ (đôi khi gọi là một “star”), mọi kênh truyền thông đều đi qua cá nhân ở trung tâm của cấu trúc.
- Là những kênh thông tin được chuyển tải trong giao tiếp trực tiếp giữa mọi người, bao gồm lời nói (đường phát âm; tai), vận động (cơ thể; mắt), mùi (quá trình hóa học; mũi), sờ chạm (bề mặt cơ thể; da), quan sát (bề mặt cơ thể; mắt), và không gian (di chuyển cơ thể; mắt).
-
Charismatic leader: Kiểu thủ lĩnh chính trị, xã hội có được những người đi theo hết sức tận tuỵ, nhiệt huyết, cam kết. Nhà xã hội học người Đức Max Weber định nghĩa là những người được ngưỡng mộ và tôn kính rộng rãi, nhưng thuật ngữ này được sử dụng phổ biến hơn để chỉ những thủ lĩnh thành công nhờ sự mê hoặc, sức hút cá nhân.
-
Client-centred therapy: Một kỹ thuật tư vấn tâm lí hay liệu pháp tâm lí được phát triển bởi nhà Tâm lý học Mĩ Carl Rogers. Trong đó, các nhà trị liệu ngừng diễn giải những gì người bệnh nói mà thay vào đó, cố thể hiện một thái độ có cái nhìn tích cực vô điều kiện trong hoàn cảnh một mối quan hệ cho phép, chấp nhận, không đe doạ. Liệu pháp này giúp đỡ bằng cách làm sáng tỏ, diễn đạt lại, và phản ánh lại những cảm nhận hay cảm xúc nằm phía sau lời nói và hành vi của người bệnh, với giả định rằng người ta có khả năng nhận ra nguồn gốc của các vấn đề tình cảm và tìm ra giải pháp cho chính mình một khi được giải phóng khỏi những cảm thức lo âu và bất an. Cũng gọi là person-centred therapy/counselling hoặc non-directive therapy/counselling.
-
Clinical psychology: Một ngành hàng đầu của Tâm lý học, liên quan đến bản chất, chẩn đoán, phân loại, chữa trị, và phòng ngừa các rối loạn và mất năng lực tâm trí. Ngành này khác biệt một cách tinh tế với abnormal psychology (Tâm lý học bất thường), vốn là khoa nghiên cứu về các rối loạn tâm trí.
-
Clouding of consciousness: Một trạng thái ý thức tác động đến suy nghĩ, chú ý và tri nhận, trong đó người ta bị nhầm lẫn hay không nhận biết đầy đủ về xung quanh trong lúc ấy.
-
Cloze procedure: Một phương pháp đo nghiệm năng lực hiểu văn bản bằng cách đoán những từ bị thiếu (đã bị xoá đi) ở những quãng cách đều trong bài.
-
Clustering: Trong hồi ức tự do, đây là xu hướng những khoản mục có quan hệ về mặt khái niệm với nhau được nhớ lại tiếp nối nhau bất kể khi được học chúng có được tập hợp theo nhóm hay không. Ví dụ, nếu tên các đô thị, cây cối, và động vật được học theo trật tự ngẫu nhiên, thì chúng vẫn có xu hướng được nhớ lại theo từng nhóm riêng biệt (đô thị trong một nhóm, cây cối trong một nhóm, và động vật trong một nhóm).
Nguồn: Hoàng Hưng (2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 21) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024