Từ Ec tới En

441. Eclectic psychotherapy: Liệu pháp tâm lí chiết trung

Bất kì liệu pháp tâm lí nào dựa trên sự kết hợp các lí thuyết và phương pháp hay sử dụng các khái niệm và kĩ thuật từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm kinh nghiệm chuyên môn tích hợp của các nhà chữa trị. Mang tính chính thức hơn, Prescriptive eclectic psychotherapy – Liệu pháp tâm lí chiết trung định dạng sử dụng việc kết hợp các cách tiếp cận liệu pháp tâm lí một cách liên tiếp chuyên biệt về mặt định dạng, phương pháp, và diễn trình nhằm nâng cao hiệu quả.

442. Ecological perception: Tri kiến sinh thái

Việc tìm tòi phát hiện của một động vật/ con người về những cái có thể được chấp nhận và những cái không thể thay đổi (affordances and invariances) trong môi trường tự nhiên, thế giới thực của mình (sinh thái chứ không phải phòng thí nghiệm), được trung gian và hướng dẫn bởi việc đầm mình vào và vận động trong môi trường ấy. J.J. Gibson cho rằng tri kiến sinh thái có tính chỉnh thể (holistic) (động vật/ người và môi trường là một hệ thống đơn nhất không thể tách rời), rằng các thuộc tính của môi trường được tri kiến như các thực thể có nghĩa, và các mẫu tri kiến có thể là trực tiếp hơn là những khái niệm đòi hỏi sự diễn giải cao hơn bởi những trung tâm của não bộ từ thị giác hay các nguồn khác.

443. Ecological psychology: Tâm lý học sinh thái

Phân tích các khung cảnh của hành vi với mục tiêu là dự đoán những mẫu hành vi xảy ra trong những khung cảnh nhất định. Tập trung vào vai trò của những yếu tố vật lí và xã hội của khung cảnh trong việc sinh ra hành vi. Theo thuyết Behavior-setting (Khung cảnh quyết định hành vi) hành vi sẽ diễn ra trong một khung cảnh cụ thể phần lớn được định sẵn bởi những vai trò tồn tại trong khung cảnh ấy và hành động của những người đóng vai trò như thế, không phụ thuộc nhân cách, tuổi tác, giới tính và những đặc tính khác của các cá nhân hiện diện. Chẳng hạn, trong một buổi tế lễ, một hay một số cá nhân đóng vai thủ lãnh (thầy tư tế), trong khi phần lớn người tham dự làm khán giả. Những nhân tố khác định hình hành vi là kích cỡ của khung cảnh, số lượng các vai cần có để duy trì nó, độ mở của nó (cho ảnh hưởng bên ngoài hay những người không phải thành viên), và sự minh bạch của luật lệ liên quan đến hành vi được trông mong.

444. Ecosystem approach: Cách tiếp cận theo hệ sinh thái

Một cách tiếp cận về liệu pháp nhấn mạnh sự tương tác giữa cá nhân hay gia đình và những hoàn cảnh xã hội rộng lớn hơn như trường học, nơi làm việc, và các tổ chức xã hội. Nhấn mạnh sự tương liên và tương thuộc và phái sinh từ những lĩnh vực khác nhau, bao gồm Tâm lý học, xã hội học, nhân học, kinh tế học, và chính trị học. Đặc biệt là FAMILY THERAPY (LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH), đã sử dụng cách tiếp cận này để thiết kế những cách can thiệp đối với những gia đình và hệ thống phức hợp. [phát triển trong Tâm lý học bởi nhà Tâm lý học phát triển Mĩ gốc Nga Uri bronfenbrenner (1917-2005).

445. Edge theory: Thuyết mép vực

Thuyết cho rằng Nỗi lo âu chết (Death Anxiety) có một chức năng sống sót xuất hiện khi cá nhân tự tri nhận là mình đang lâm vào tình huống đe doạ sự sống. Thuyết này toan tính giải quyết những trái ngược bề ngoài giữa những tuyên bố rằng nỗi lo âu chết là một động lực quan trọng với những nghiên cứu quan nghiệm cho thấy nỗi lo âu chết trong đại chúng chỉ có ở mức từ thấp đến vừa phải. Nó gợi ý rằng nỗi lo âu chết là mặt chủ quan hay quan nghiệm của một sự chuẩn bị mang tính chỉnh thể để đối phó với nguy nan (tượng trưng là đứng ở mép khoảng trống không). Sự thức tỉnh cao độ được phát động bởi nỗi lo xuất hiện trong những tình huống khẩn cấp; những khó khăn xuất hiện khi việc đáp ứng khẩn cấp bị chìm bởi sự vận hành thường ngày của cá nhân. [nhà Tâm lý học người Mĩ Robert J. Kastenbaum].

446. Educational psychology: Tâm lý học giáo dục

Một lĩnh vực Tâm lý học ứng dụng liên quan đến giáo dục và phúc lợi của thanh thiếu niên về tình cảm và xã hội. Ở Hoa Kì, các nhà Tâm lý họcGD được đào tạo ở ngành giáo dục hơn là tâm lí học, và làm việc chủ yếu như nhà tư vấn trong trường đại học và trung học. Ở nước Anh, họ được đào tạo ở ngành phát triển trẻ em, Tâm lý học dạy và học, và những khía cạnh Tâm lý học của việc đánh giá và giáo dục trẻ em có nhu cầu đặc biệt. Công việc tương tự ở Hoa Kì được gọi là school psychology (Tâm lý học nhà trường).

447. Ego: Cái Tôi (Cái Ngã)

[trong Phân tâm học): Một trong ba thành tố của bộ máy tâm trí con người, trong văn bản thứ hai của lí thuyết Sigmund Freud (1856-1939) sau khi ông thay thế bản mô tả cái vô thức- cái tiền ý thức- cái ý thức (conscious-preconscious-conscious) bằng hình mẫu cấu trúc cái ấy – cái tôi – cái siêu tôi (id-ego-superego) vào năm 1920. Đó là cái phần lớn có ý thức của tâm trí, chủ yếu được chỉ huy (dù không đặc biệt) bởi nguyên lí thực tế, trung gian giữa thực tại bên ngoài, Cái Ấy và cái Siêu Tôi. Trong cuốn sách Cái tôi và cái ấy (tiếng Anh là The Ego and the Id) năm 1923, Freud mô tả vài trò của Cái Tôi như sau: “nó phải phục vụ 3 ông chủ và do đó bị đe doạ bởi 3 mối nguy: từ thế giới bên ngoài, từ libido (tính dục năng) của cái ấy và từ sự nghiêm khắc của cái siêu tôi”. Cái Tôi không đơn giản là tâm trí có ý thức như thường được giải thích một cách phổ thông về lí thuyết Freud: ở một người bệnh thần kinh, cái tôi sinh ra cơ chế phòng vệ, và sự vận hành của cái tôi này mang tính vô thức rất lớn. Freud giới thiệu khái niệm Cái Tôi trong những bài viết ban đầu của ông, dùng từ tiếng Đức Ich (được chế từ đại từ thông thường hàng ngày ich, và dịch giả James Stratchey (1867-1967) chuyển thành ego, thêm cho nó sự khó hiểu và điều mà từ gốc tiếng Đức thiếu về mặt kĩ thuật. Trong ngôn ngữ nói, từ này được dùng để chỉ tinh thần tự thị, tự coi trọng của cá nhân.

448. Egocentrism: (tâm thức) Ngã qui (lấy mình làm trung tâm)

Một thuật ngữ được mang nghĩa kĩ thuật vào năm 1926 do nhà Tâm lý học Thuỵ Sĩ Jean Piaget (1896-1980) để chỉ tình trạng nhận thức trong đó đứa trẻ ở giai đoạn phát triển tiền thao tác chỉ hiểu thế giới từ quan điểm của chính mình và không nhận biết rằng quan điểm của những người khác là khác biệt. Điều ấy bao hàm việc không phân biệt được những khía cạnh chủ quan khỏi những khía cạnh khách quan trong trải nghiệm, và từ đó đặt định một thiên kiến vô thức cho nhận thức. Chứng minh kinh điển cho điều này là “nhiệm vụ ba quả núi” của Piaget, trong đó một đứa trẻ ngồi trước một hình mẫu ba quả núi đặt trên bàn và được hỏi nếu một con búp bê nhìn từ một góc nhìn khác thì sẽ thấy thế nào. Phần lớn trẻ ở giai đoạn tiền thao tác (khoảng 5 tuổi) nhất định mô tả cách nhìn của con búp bê giống hệt cách nhìn của mình.

449. Ego-dystonic sexual orientation: Định hướng tính dục do rối loạn cái tôi

Một thuật ngữ gây tranh cãi về định hướng tính dục. Từ đó có các thuật ngữ ego-dystonic bisexuality (tính dục lưỡng tính do rối loạn cái tôi), ego-dystonic homosexuality (đồng tính nam do rối loạn cái tôi). Năm 1973, Hội Tâm thần học Hoa Kì bỏ mục “Mental disorder of homosexuality – Loạn tâm đồng tính nam” khỏi sách Diagnosis and Statistical Manual of Mental Disorders (Sổ tay Chẩn đoán và thống kê các chứng Loạn tâm) và bị phản ứng dữ dội vì những hội viên bất đồng cho là lãnh đạo Hội đầu hàng phe cổ vũ tự do đồng tính nam. Sau các tranh cãi và trưng cầu ý kiến tất cả thành viên của Hội, lần xuất bản thứ ba chỉ đưa vào thuật ngữ ego-dystonic homosexuality. Cũng gọi là sexual orientation disturbance (SOLD) – rối loạn định hướng tính dục.

450. Ego identity: Căn tính (của) Cái Tôi

[trong Ego Psychology – Tâm lý học Cái Tôi]: Một thuật ngữ được giới thiệu bởi nhà Phân tâm học Mĩ gốc Đức Erik H. Erikson (1902-1994) vào năm 1946, để chỉ một trạng thái Tâm lý học mà một cá nhân đạt được vào cuối tuổi thiếu niên nếu như sự khủng hoảng về phát triển trước đó đã được thương lượng thành công. Nó bao hàm một tinh thần nhận thức về căn tính cá nhân (mình là ai) và về việc những người khác nhìn mình ra sao. Một thiếu niên không đạt được căn tính Cái Tôi dễ trải nghiệm sự thất vọng, thiếu tinh thần bằng hữu với các nhóm đồng đẳng, và khó giữ tình thân mật và hình thành các quan hệ thương yêu.
451. Egocentric speech: Diễn ngôn ngã qui

Diễn ngôn có vẻ không hướng tới người khác hay không có toan tính trao đổi ý nghĩ hay không tính đến quan điểm của người khác. Theo Jean Piaget, việc sử dụng diễn ngôn ngã qui của trẻ là ưu thắng cho đến 7 hay 8 tuổi, và mất đi khi trẻ phát triển SOCIAL SPEECH (DIỄN NGÔN XÃ HỘI) hướng tới các nhu cầu của người khác. Tuy nhiên, theo Lev Vygotsky, diễn ngôn ngã qui là một phần của diễn ngôn xã hội không thành lời, hướng tới việc giải quyết các vấn đề và phát triển thành ngôn ngữ nội tâm. Cũng gọi là private speech (diễn ngôn riêng tư).

452. Ego development: (sự) Phát triển cái tôi

– Sự xuất hiện ở đứa trẻ ý thức mình là một cá nhân riêng rẽ khác hẳn những người khác, nhất là cha mẹ.

– [trong thuyết phân tâm học kinh điển]: Tiến trình một phần của Cái Ấy biến đổi dần thành Cái Tôi như kết quả của các yêu cầu của môi trường. Nó bao gồm một giai đoạn tiền ý thức, trong đó cái tôi phát triển một phần, và một giai đoạn có ý thức sau đó, trong đó những chức năng của cái tôi ấy như suy lý, phán đoán, và kiểm nghiệm thực tế đi đến chỗ kết quả và giúp bảo vệ cá nhân khỏi những đe doạ bên trong và bên ngoài. Cũng gọi là ego formation (sự hình thành cái tôi).

453. Ego psychology: Tâm lý học (về) cái Tôi

Một trường phái phân tâm học dựa trên sự phân tích cái Tôi, sáng lập năm 1939 bởi nhà phân tâm học người Mĩ gốc Áo Heinz Hartmann (1894-1970), bao gồm nhà Tâm lý học Mĩ gốc Đức Ernst Kris (1901-57), nhà Tâm lý học Mĩ gốc Hung David Rapaport (1911-60) và nhà phân tâm học Mĩ gốc Đức (dòng dõi Hà Lan) Erik H. Erikson (1902-94). Đề tài thiết yếu là cái tôi có năng lực vận hành một cách tự trị và không bó hẹp trong những xung đột nội tâm với cái Ấy và cái Siêu Tôi. Hartman biện luận rằng sự hài lòng đạt được từ việc rèn luyện không hạn chế các chức năng của cá nhân, như khi một đứa trẻ vui sướng vì chuyện học đi hay học vẽ, và Rapaport đồng nhất việc tìm kiếm cái mới với một hoạt động tự tưởng thưởng. Các nhà Tâm lý học về cái Tôi bác bỏ lí thuyết phân tâm học kinh điển về động lực chỉ để giảm bớt căng thẳng.

454. Ego-splitting: (sự) Chia tách cái tôi

– [trong thuyết phân tâm học]: Sự phát triển của Cái Tôi thành những thái độ đối lập nhưng cùng tồn tại trước một hiện tượng, trong người bình thường cũng như người bệnh thần kinh hay tâm thần. Trong một hoàn cảnh bình thường, sự chia tách cái Tôi có thể được thấy trong thái độ phê phán của cái bản thể đối với cái bản thể; trong các chứng bệnh thần kinh, căn bản là những thái độ mâu thuẫn đối với những hành vi cụ thể; trong các bệnh tâm thần, sự chia tách cái Tôi có thể sinh ra một phần của cá nhân “đang quan sát”, nhìn thấy và có thể tường trình về những hiện tượng ảo giác.

– [trong OBJECT RELATIONS THEORY (THUYẾT QUAN HỆ VỚI ĐỐI TƯỢNG) của Melanie Klein]: Sự phân mảnh của cái Tôi thành những phần được coi là xấu bị tách khỏi cái Tôi chính yếu.

455. Eidetic image: Lưu ảnh

Một hình ảnh hay kí ức tâm trí rõ ràng và sống động lạ thường, y như đang được tri nhận, mà một số ít trẻ em và số càng ít hơn trong người lớn có được. Đặc biệt hơn, là một hình ảnh thị giác rõ ràng và sống động thể hiện một kích thích được tri nhận từ trước, kéo dài hơn vài giây và thường là nhiều phút, thậm chí hàng tháng, có vẻ như ở ngay trước mắt, mà người ta có thể hồi tưởng để trường trình về chi tiết và quan hệ của những chi tiết với nhau.

456. Either-or fallacy: Nguỵ lí loại trừ

Một kiểu nguỵ lí hay kĩ thuật thuyết phục trong đó một luận điểm được xây dựng để phải chọn chỉ một trong hai phương án. Nó bỏ qua khả năng (a) hai phương án có thể không loại trừ lẫn nhau (b) có thể có nhiều phương án cũng có giá trị tương đương. Chẳng hạn, luận điểm cho rằng nguyên nhân của hành vi hoặc là bản chất vốn có hoặc là được nuôi dưỡng bỏ qua khả năng cả hai có thể đóng một vai trò nguyên nhân, hay là tác nhân của con người cũng có thể là một phần của lời giải thích.

457. Elaboration likelihood model: Hình mẫu về khả năng phát triển sâu

Một hình mẫu về sự thuyết phục và thay đổi hành vi theo đó những người nhận một thông điệp thuyết phục mà có động lực cao và có năng lực xử lí cẩn thận nội dung của thông điệp thì có xu hướng phát triển sâu và suy nghĩ về những luận điểm thích hợp với vấn đề, và nếu họ thấy những luận điểm trong thông điệp là thuyết phục, họ có thể thể hiện sự thay đổi hành vi lâu bền; trong khi những người nhận thông điệp nhưng động lực và năng lực xử lí thấp, thì dễ bị ảnh hưởng bởi những nhân tố ngoại vi như sự hấp dẫn của nguồn tin, và sự thay đổi hành vi đạt được sẽ có xu hướng yểu mệnh và khó lường. Hình mẫu được phát biểu vào năm 1981 và duyệt lại năm 1986 bởi các nhà Tâm lý học Mĩ Richard Edward Petty (1951-) và John Terrace Caciopo (1951-).

Viết tắt là ELM.

458. Elan vital: Đà sống

[trong tư tưởng của nhà Tâm lý học Pháp Henri Bergson (1859-1914)]: Một sức sống hay năng lượng sống làm sống động các động vật, con người, và thúc đẩy sự sống về một mục đích thông qua diễn trình tiến hoá. Cũng gọi là life force (sức sống).

459. Elective affinity: Ái lực đặc tuyển

Một cảm nhận thiện cảm, hấp dẫn hay kết nối với một người, một việc, một ý tưởng cụ thể. Thuật ngữ thoạt được dùng để nói về những diễn trình hoá học nhất định nhưng rồi mang một nghĩa bóng sau khi cuốn tiểu thuyết The Elective affinities (Những ái lực đặc tuyển) của Wolfgang von Goethe ra đời. Nó thường được dùng để chỉ những sự ưa thích và cảm nhận thông thường tạo nên một căn tính văn hoá dân tộc phân biệt các nhóm hay phân nhóm người.

460. Electra complex: Phức cảm Electra

[trong phân tâm học]: Liên quan đến tình cảm của con gái yêu cha, ghen với mẹ, và trách cứ mẹ đã làm cho mình không có dương vật. Carl Gustav Jung (1875-1961) giới thiệu thuật ngữ này trong một bài viết năm 1913 trong sách Jahrbuch für psychoanalytische und psychopathologische Forschungen (Niên giám nghiên cứu phân tâm học và tâm bệnh học), mặc dù năm 1920, Sigmund Freud (1856-1939) nói rằng ông không coi thuật ngữ là hữu dụng, và trong bài viết “Tính dục phái nữ” năm 1931 ông còn phủ nhận sự tồn tại của phức cảm này, cho rằng kiểu phức cảm yêu một người trong cha mẹ và coi người kia là đối thủ chỉ có ở bé trai. [tên đặt theo Electra trong thần thoại Hy Lạp, người sắp xếp giết mẹ là Clytemnestra sau khi bà đã giết cha của Electra là Agamemnon].

461. Elimination by aspects: (sự) Loại trừ theo khía cạnh

Một lí thuyết về việc ra quyết định dựa theo nhiều thuộc tính, được giới thiệu bởi nhà Tâm lý học Mĩ gốc Israel, Amos Tversky (1937-96), theo đó một sự lựa chọn đạt được thông qua lặp lại hàng loạt sự loại trừ. Mỗi lần lặp lại, người ra quyết định chọn một thuộc tính (khía cạnh), khả năng được chọn phụ thuộc vào tầm quan trọng của thuộc tính được tri nhận, và loại trừ những phương án thiếu thuộc tính ấy, rồi lại chọn thuộc tính quan trọng nhất kế tiếp và xử lí theo cùng phương cách, cứ thế cho đến khi các phương án bị loại trừ hết chỉ còn lại một. Đó là một phiên bản ngẫu nhiên của sự lựa chọn kiểu từ điển (lexicographic) và mặc dù không đảm bảo cho ra sự chọn tối ưu nhưng theo đo nghiệm, lại là đặc trưng cho sự ra quyết định theo nhiều thuộc tính của con người.

462. Emancipation disorder: Rối loạn giải phóng

Một rối loạn của thời mới lớn, trong đó cá nhân trải nghiệm sự xung đột giữa ham muốn tự do thoát khỏi sự kiểm soát của cha mẹ và trách nhiệm của sự độc lập. Các triệu chứng có thể bao gồm sự không dứt khoát, nhớ nhà, phụ thuộc quá mức vào chúng bạn, và quá phụ thuộc vào lời khuyên của cha mẹ. Cũng gọi là emancipation disorder of adolescence and early adulthood (rối loạn giải phóng của tuổi thiếu niên và tuổi mới lớn).

463. Emotional cognition: (sự) Nhận thức cảm xúc

Năng lực nhận ra và diễn giải cảm xúc của người khác, nhất là từ những manh mối như nét mặt và giọng nói, và diễn giải đúng tình cảm, cảm nhận của mình. Sự khiếm khuyết về nhận thức cảm xúc có liên kết với một loạt điều kiện tâm lí.

464. Emotional development: (sự) Phát triển cảm xúc

Một sự tăng tiến dần năng lực trải nghiệm, biểu hiện, và diễn giải cảm xúc. Chẳng hạn, trẻ em bắt đầu mỉm cười và nhăn mặt từ khoảng 8 tuần và cười khoảng 3-4 tháng. Các biểu hiện vui sướng, sợ hãi, giận dữ và ghê tởm rõ rệt vào 6 tháng tuổi, và sự sợ hãi người lạ từ lúc 8 tháng. Các biểu hiện yêu thương và ghen tức được thấy giữa 1 và 2 tuổi, và cáu kỉnh dưới hình thức nổi đoá xuất hiện khoảng 1 năm sau nữa. Kiểm soát vỏ não, bắt chước người khác, ảnh hưởng của hormon, không khí gia đình, và sự điều kiện hoá đóng vai trò quan trọng trong phát triển cảm xúc.

465. Emotional incest: (sự) Loạn luân về cảm xúc

Một hình thức lạm dụng tính dục trẻ em gồm những tương tác tính dục phi thể chất giữa phụ huynh và đứa trẻ mà họ chăm sóc. Có thể bao hàm việc phụ huynh bình luận về sự hấp dẫn tính dục của trẻ, về cảm hứng tính dục đối với trẻ, hay kích thước hình dạng các bộ phận của trẻ (như ngực, lông…) hay hàm ý về hoạt động tính dục của trẻ (như gọi trẻ là đĩ, điếm).

466. Emotional insulation: (sự) Cô lập cảm xúc

Một cơ chế phòng vệ có đặc trưng là làm ra vẻ thờ ơ và tách biệt để đáp lại những tình huống hay những sự kiện thất vọng. Sự cô lập cảm xúc cực độ thể hiện ở những trạng thái hoàn toàn vô cảm và đờ đẫn mất khả năng vận động.

467. Emotional intelligence: Trí khôn cảm xúc

Năng lực giám sát cảm xúc của bản thân và người khác, phân biệt giữa những cảm xúc khác nhau và đặt tên cho chúng một cách đúng đắn, và sử dụng thông tin cảm xúc để hướng dẫn tư duy và hành vi. Thuật ngữ thỉnh thoảng xuất hiện trong văn bản Tâm lý học trong những năm 1970 và 1980, nhưng khái niệm lần đầu được định nghĩa chính thức vào năm 1990 bởi các nhà Tâm lý học Mĩ Peter Salovey (1958-) và John D. Mayer (1953-), người sau đó chia thành 4 nhóm năng lực của trí khôn cảm xúc: (a) năng lực tri nhận, đánh giá và biểu hiện cảm xúc một cách xác đáng; (b) năng lực tiếp cận và khơi gợi các cảm xúc khi chúng tạo thuận lợi cho sự nhận thức; (c) năng lực thấu hiểu các thông điệp cảm xúc và sử dụng thông tin cảm xúc; (d) năng lực điều chỉnh cảm xúc của bản thân và động viên sự tăng trưởng và phúc lợi. Các thông diễn về trí khôn cảm xúc bao gồm những nhân tố khác như kĩ năng liên cá nhân và tính thích nghi. Cũng gọi là social intelligence (trí khôn xã hội), đặc biệt khi tập trung vào các năng lực thuộc nhóm (a) và (c).

468. Emotional quotient: Chỉ số cảm xúc

Một chỉ báo về trí khôn cảm xúc tương tự IQ (chỉ số trí khôn). Một số thước đo được phát triển sau khi ra đời cuốn sách bán chạy Emotional Intelligence vào năm 1995 của nhà Tâm lý học và nhà báo Mỹ Daniel Goleman (1946-). Những cách đo ban đầu dựa trên tường trình của cá nhân về tri nhận, đánh giá các năng lực của bản thân và kinh nghiệm trong các địa hạt vận hành có liên quan đến trí khôn cảm xúc; những cách đo có hiệu lực hơn được phát triển bắt đầu vào cuối thập niên 1990 tập trung vào những năng lực then chốt. Viết tắt là EQ.

569. Empiricism: Chủ nghĩa duy nghiệm

Học thuyết liên kết đặc biệt với nhà Tâm lý học người Anh, John Locke (1632-1704), nhà Tâm lý học người Ireland, Bishop George Berkeley (1685-1753) và nhà Tâm lý học người Scotland, David Hume (1711-76), được biết đến chung là các nhà duy nghiệm luận Anh. Theo đó, mọi yếu tố của kiến thức – hay, theo phiên bản ít cực đoan hơn, mọi kiến thức thực tế phân biệt với những suy diễn diễn dịch theo logic – đều xuất phát từ trải nghiệm, những người có quan điểm này thường dùng phương pháp thực nghiệm làm nguyên mẫu của sự thu nạp kiến thức nói chung.

470. Encoding specificity: Đặc hiệu của mã hoá

Hiệu quả nhớ lại của mối quan hệ giữa các thao tác mã hoá vào lúc học với những manh mối có được vào lúc nhớ lại, hiệu quả của thao tác mã hoá phụ thuộc vào tính chất của các manh mối khi nhớ lại, và hiệu quả của những manh mối cụ thể khi nhớ lại phụ thuộc vào tính chất của các thao tác thao tác mã hoá trước đó. Chẳng hạn, nghiên cứu đã cho thấy rằng: nếu một người đọc câu “người đàn ông lên dây đàn piano” cùng với nhiều câu khác, và sau đó cố nhớ lại những sự vật nói đến trong tất cả các câu, thì manh mối “âm thanh êm ái” tạo thuận lợi để nhớ lại “piano”, trong khi manh mối “vật nặng” không gợi nhớ cái đó; nhưng nếu câu gốc là “người đàn ông nâng đàn piano lên” thì “vật nặng” là manh mối hiệu quả chứ không phải “âm thanh êm ái”. Hiện tượng này được nói nhiều trong một cuốn sách vào năm 1928 của nhà Tâm lý học Mĩ Harry L. Hollingworth (1880-1956), trong đó ông gọi nó là “nguyên lí tái lập các điều kiện kích thích”. Cũng gọi là encoding-retrieval interaction (tương tác mã hoá-nhớ lại) hay transfer-appropriate processing (xử lí chuyểngiao-chiếm dụng).

Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 46) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024