Từ Co (1)

225. Coaching psychology: Tâm lý học Hướng dẫn

Một nhánh Tâm lý học Ứng dụng xuất hiện trong đầu thập niên 2000, được định nghĩa vào năm 2005 trong số đầu tiên của tạp chí The Coaching Psychologist (Nhà Tâm lý học Hướng dẫn) và năm 2006 trong số đầu tiên của tạp chí International Coaching Psychology Review (Tạp chí Tâm lý học Hướng dẫn Quốc tế) như việc áp dụng những kĩ thuật Tâm lý học để nâng cao sự an lạc và hiệu năng trong đời sống cá nhân và trong các lĩnh vực làm việc, dựa trên những hình mẫu về sự hướng dẫn có cơ sở là việc học của người trưởng thành đã được thiết định hay là những phương pháp Tâm lý học.

226. Coaction effect: Hiệu ứng cùng hành động

Hiệu ứng đối với hiệu năng thực hiện nhiệm vụ của một cá nhân gây ra bởi sự có mặt của những cá nhân khác cùng dấn thân vào hoạt động. Phụ thuộc vào bản chất của nhiệm vụ, hiệu ứng này có thể là tích cực hay tiêu cực.

227. Co-counselling: (phương pháp) Đồng tư vấn

Một kỹ thuật tư vấn hay tâm lí trị liệu tự thực hiện, trong đó mọi người làm việc từng đôi, lần lượt làm người tư vấn rồi người bệnh. Được phát triển vào thập niên 1950 bởi nhà tư vấn người Mĩ Carl Harvey Jackins (1916-99). Cũng gọi là re-evaluation counselling (tư vấn tái định giá).

228. Coenaeasthesis: (sự) Cảm nhận tổng hợp

Cảm nhận tổng hợp về sự sinh tồn của cơ thể, từ tổng số các cảm giác về cơ thể, khác biệt với từng cảm giác đặc thù. Cũng gọi là coenesthesia. Tiếng Mỹ: cenesthesis, cenesthesia.

229. Cognitive-appraisal theory: Thuyết thẩm định nhận thức

Một thuyết về xúc cảm, theo đó sự hứng khởi làm nên cơ sở của mọi cảm xúc, nhưng phẩm tính của cảm xúc được tạo bởi diễn giải của người ta về nguyên nhân của nó, cảm xúc chuyên biệt phụ thuộc vào sự diễn giải và giải thích của người ta về sự hứng khởi được cảm nhận. Thuyết này được đề xuất năm 1964 bởi nhà Tâm lý học Mĩ Stanley Schachter (1922-97), là một kiểu lí thuyết qui kết (attribution theory) có cơ sở là thuyết James-Lange nhưng có tính đến lời phê bình rằng các cảm xúc khác nhau có xu hướng chia sẻ những đáp ứng của cùng một cơ thể. Trong một thí nghiệm nổi tiếng năm 1962 của Schachter và nhà Tâm lý học Mĩ Jerome Everett Singer (1929-2010), những người tham dự được tiêm adrenalin, và một số được dẫn dắt để diễn giải rằng hứng khởi được tạo nên từ đó chỉ là một hiệu ứng phụ mang tính tâm lĩ của mũi tiêm. Rồi các người tham dự được đưa vào những tình huống được xếp đặt để gợi lên sự hoan hỉ hay giận dữ, và những người đã được dẫn dắt để gán sự hứng khởi cho mũi tiêm đã thể hiện ít cảm xúc hơn những người gán sự hứng khởi cho tình huống mà mình được đưa vào, mặc dù các kết quả không hoàn toàn rõ rệt. Cũng gọi là cognitive-evaluation theory (thuyết định giá nhận thức).

230. Cognitive behaviour modification: (sự) Sửa đổi hành vi nhận thức

Một hình thức tâm lí trị liệu dựa trên trị liệu về nhận thức và sửa đổi hành vi, trong đó người bệnh học cách thay thế lời tự nói với mình mang tính loạn chức năng (như “tôi biết rằng tôi không bao giờ làm được công việc này”) thành những sự thay thế có tính thích nghi (“công việc không trôi chảy, nhưng tôi có thể tìm ra một kế hoạch khắc phục các vấn đề”). Cũng được áp dụng vào việc kiểm soát giận dữ, quản lí stress, đối phó với lo âu và phát triển các kĩ năng giao tiếp xã hội. Viết tắt: CBM. Tiếng Mĩ: cognitive behavior modification. Cũng gọi là cognitive behaviour therapy (CBT) hay behavioural therapy (liệu pháp hành vi nhận thức/ liệu pháp hành vi).
231. Cognitive-affective personality system: Hệ nhân cách nhận thức-tình cảm

Một quan niệm lí thuyết về cấu trúc nhân cách trong đó nhân cách được nhìn như một hệ phức hợp gồm số lớn những xu hướng nhận thức và tình cảm nối kết lẫn nhau một cách cao độ (được phát triển bởi các nhà Tâm lý học về nhân cách người Mĩ Walter Mischel (1930-) và Yuichi Shoda).

232. Cognitive Assessment System (CAS): Hệ thống đánh giá nhận thức

Một đo nghiệm cá nhân về trí khôn dựa trên lí thuyết thần kinh tâm lí học về trí khôn của Alexandre Luria. Áp dụng cho cả trẻ nhỏ lẫn thiếu niên, đo nghiệm này cho các điểm số riêng rẽ về các năng lực kế hoạch hoá, chú ý, xử lí đồng thời và xử lí thành công, cũng như một điểm số tổng thể. Các điểm số trong đo nghiệm này tương liên với các điểm số trong những đo nghiệm có tính qui ước hơn về trí khôn nhưng độ tương liên không cao bằng độ tương liên giữa các điểm số trong cùng đo nghiệm (vì cơ sở lí thuyết khác nhau).

233. Cognitive behavioral (behavioural) couples therapy: Liệu pháp hành vi nhận thức cho lứa đôi

Liệu pháp cho lứa đôi sử dụng các kĩ thuật về hành vi cho lứa đôi cũng tập trung chú ý vào ảnh hưởng qua lại của những mẫu ý nghĩ về nhau và về lứa đôi nói chung của riêng từng đối tác. Các ý nghĩ nhiễu loạn được diễn đạt một cách ý thức và rõ ràng, và sau đó được sửa đổi nhằm cải thiện mối quan hệ lứa đôi.

234. Cognitive behavioral (behavioural) group therapy: Liệu pháp hành vi nhận thức cho nhóm

Một kiểu liệu pháp tâm lí cho nhóm, sử dụng những kĩ thuật và phương pháp của liệu pháp hành vi nhận thức như: tạo mẫu mực, tái cấu trúc suy nghĩ, huấn luyện thư giãn, và huấn luyện các kĩ năng giao tiếp, nhằm đạt được những mục tiêu được xác định về mặt hành vi. Các nhóm có thể là những thân chủ có những vấn đề khác nhau hay có cùng những vấn đề chuyên biệt.

235. Cognitive derailment: (sự) Trật đường nhận thức

Một mẫu tư duy, liên quan chặt chẽ với sự lỏng lẻo về liên kết, trong đó các ý nghĩ có khuynh hướng trượt từ một đường sang một đường không liên quan hay chỉ liên quan một cách gián tiếp. Biểu thị trong lời nói là những sự chuyển đổi kì quặc giữa các câu hay các mệnh đề có nghĩa.

236. Cognitive developmental theory: Thuyết phát triển nhận thức

Bất kỳ thuyết nào toan tính giải thích các cơ chế nằm bên dưới sự trưởng thành và chín muồi của các tiến trình tư duy. Có thể là nói về những giai đoạn phát triển trong đó những thay đổi về tư duy là tương đối đột ngột và đứt đoạn, hay những thay đổi có thể được nhìn như xảy ra một cách tuần tự và liên tục theo thời gian.

237. Cognitive economy: (sự) Tiết kiệm về nhận thức

Khuynh hướng giảm thiểu nỗ lực và các nguồn xử lí nhận thức. Chẳng hạn, chúng ta không phí dung lượng trí nhớ để cất giữ thông tin “có hai chân” về mọi người ta biết; thay vì thế, chúng ta cất giữ thực kiện này như một “mặc định” cho mọi người nói chung và thêm một ghi nhớ riêng rẽ “có một chân” hay “có hai chân” chỉ trong những trường hợp mà sự mặc định không được áp dụng.

238. Cognitive map: Bản đồ nhận thức

Một biểu trưng tâm trí của một phần môi trường vật chất và những vị trí tương đối của các điểm nằm trong đó. Các bản đồ tâm trí nhìn chung bị méo mó bởi sự đơn giản hoá các giả định và tiên kiến: trong các bản đồ nhận thức của mọi người, các con đường có xu hướng cắt nhau theo góc vuông ngay cả khi thực tế không như vậy… Con người và thú vật chim muông đi lại có phần theo bản đồ nhận thức và có phần theo vector thẳng tiến (đi theo hướng cố định về mục tiêu). Thuật ngữ được đưa vào một bài viết năm 1948 trong Psychological Review – Tạp chí Tâm lý học, của nhà Tâm lý học Mĩ Edward Chace Tolman (1886-1959), mô tả một thí nghiệm trong đó ông huấn luyện một nhóm chuột chạy qua một mê cung đến mục tiêu là một cái hộp, rồi bịt đường mà lũ chuột đã quen, và quan sát thấy rằng phần lớn lũ chuột không chần chờ chọn những lối thay thế đi thẳng theo hướng đúng. Cũng gọi là conceptual map (bản đồ khái niệm) hay mental map (bản đồ tâm trí).

239. Cognitive penetrability: (tính) Chịu ảnh hưởng về nhận thức

Mức độ của một tiến trình nhận thức chịu ảnh hưởng một cách vô thức bởi các giả định và trông đợi. Chẳng hạn, nghiên cứu đã cho thấy rằng: nếu một người hình dung mình chuyển cái nhìn từ một cây đèn biển sang một cây cầu, thì thời gian để chuyển đổi không liên quan đến khoảng cách trong hình dung, trong khi nếu hình dung mình đi hay chạy từ cây đèn biển sang cây cầu hay hình dung một vật di chuyển giữa hai vị trí ấy, thì thời gian để đi sẽ tỉ lệ với khoảng cách trong hình dung. Điều này cho gợi ý rằng: những tiến trình nhận thức trên chịu ảnh hưởng một cách vô thức bởi các giả định và trông đợi về sự chuyển động vật chất. Khái niệm được đưa vào và đặt tên trong những bài viết vào năm 1978 và 1979 bởi nhà Tâm lý học Canada Zenon Walter Pylyshin (sinh năm 1937), người đã thực hiện thí nghiệm đèn biển-cầu.

240. Cognitive science: Khoa học nhận thức

Thuật ngữ bao trùm công việc liên ngành, bao gồm Tâm lý học nhận thức, tâm sinh học, nhân học, tin học, trí tuệ nhân tạo, ngữ học, và triết học; quan tâm đến việc thu nạp và xử lí thông tin. Bao gồm nghiên cứu về ngôn ngữ, sự học, tri giác, suy nghĩ và giải quyết vấn đề và biểu trưng kiến thức (knowledge representation – một khái niệm tin học). Thuật ngữ được đưa vào năm 1973 bởi nhà hoá học lí thuyết và tin học người Anh Hugh Christopher Longuet-Higgins (1923-2004) trong một bài bình điểm về trí tuệ nhân tạo trong tài liệu mang tên Artificial Intelligence: A Paper Symposium (Trí tuệ nhân tạo: một tập tiểu luận), Science Research Council of the UK – Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Vương quốc Anh xuất bản.
241. Cognitive structure: Cấu trúc nhận thức

– Một khung, mẫu, hay sơ đồ tâm trí duy trì và tổ chức một khối thông tin liên hệ đến một chủ đề cụ thể. Khi cần đến một cấu trúc nhận thức, như trong một đo nghiệm ở trường học, cá nhân được cho là sẽ đi vào tìm kiếm trong trí nhớ, cấu trúc nhận thức được cất giữ trong đó sẽ được lấy ra và áp dụng vào yêu cầu hiện tại.

– Một cấu trúc hợp nhất của các thực kiện, niềm tin và thái độ về thế giới hay xã hội.

242. Cognitive style: Phong cách nhận thức

Phương thức đặc trưng của cá nhân trong việc tri nhận, suy nghĩ, nhớ lại, và giải quyết vấn đề. Các phong cách nhận thức có thể khác nhau về những yếu tố hay hoạt động ưa thích, như làm việc tập thể so với làm việc riêng rẽ, hoạt động có cấu trúc cao hay thấp, mã hoá bằng thị giác hay ngôn từ. Những chiều kích khác nhau khác của phong cách nhận thức là tính suy tư-tính bị thôi thúc, thái độ trừu tượng-thái độ cụ thể… Cũng gọi là learning style (phong cách học tập), thinking style (phong cách tư duy).

243. Cognitive therapy: Liệu pháp nhận thức

Một hình thức liệu pháp tâm lý nhắm sửa đổi niềm tin, sự trông mong, giả định và phong cách suy nghĩ của con người, dựa trên giả định rằng những vấn đề tâm lí thường bắt nguồn từ các mẫu tư duy sai lạc và tri nhận méo mó về thực tại, có thể nhận dạng và sửa chữa. Đã được áp dụng đặc biệt vào việc chữa trị chứng trầm cảm. Hình thức đầu tiên được sử dụng rộng rãi, tuy không được gọi tên là liệu pháp nhận thức, là rational emotive therapy – liệu pháp xúc cảm lí tính (RET) và thành phần có ảnh hưởng nhất của một hình thức về sau, phức hợp hơn, là của nhà tâm thần học Mĩ Aaron Temkin Beck (1921-). Beck là người đầu tiên gợi ý trong sách Depression: Clinical, Experimental and Theoetical Aspects (Trầm cảm: các khía cạnh lâm sàng, thực nghiệm và lí thuyết (1967) rằng những người dễ trầm cảm có xu hướng có những sơ đồ tự nhận thức tiêu cực xoay quanh những giả định về sự bất cập, thất bại, mất mát, và không có giá trị; Beck cho rằng những niềm tin ấy là không thực và thiên kiến, nhưng nghiên cứu đi vào thực trạng của chứng trầm cảm lại cho thấy sự đối lập.

244. Cognitivism: Thuyết duy nhận thức

Một quan điểm Tâm lý học cho rằng nghiên cứu nhận thức dễ đưa tới sự hiểu rộng hơn về tâm lí con người. Đối lập với behaviorism, behaviourism (thuyết duy hành vi).

245. Cold cognition: Nhận thức lạnh

Một tiến trình hay hoạt động tâm trí không dính vướng vào tình cảm hay xúc cảm. Chẳng hạn, đọc một loạt âm tiết vô nghĩa hay những mẩu thông tin bịa đặt hay không xác thực.

246. Collective guilt: Tội tập thể

– Trạng thái cảm xúc khó chịu liên quan đến nhận thức được chia sẻ rằng nhóm hay hội đoàn của mình đã vi phạm những nguyên tắc đạo đức hay xã hội, đi cùng với sự hối hận.

– Ý nghĩ, thường được xem là giả tạo và có hại, rằng các thành viên của một nhóm có thể phải chịu trách nhiệm vì những vi phạm chuẩn mực hay luật lệ của những thành viên khác trong nhóm.

247. Collective hysteria: Chứng hysteria tập thể

Sự bùng phát bộc phát trong một nhóm hay cộng đồng xã hội những suy nghĩ, tình cảm, hay hành động không thể xếp loại. Bao gồm chứng ốm tâm lí, ảo giác tập thể, và những hành động kỳ dị. Chẳng hạn những cuồng hứng hay hoảng loạn lan nhiễm: Dance epidemics (dịch nhảy nhót) thời Trung đại, Tulipmania TK 17 ở Hà Lan (Cuồng hứng hoa tulip, khi giá một số loài hoa tulip bị thổi lên cao ngất rồi sụp đổ – [Sài Gòn trước 1975 có vụ tương tự với trứng cút], phong trào cuồng đọc sách năm 1938 với cuốn War of the Worlds (Chiến tranh giữa các thế giới) của Orson Wells. [Trong chiến tranh Việt Nam 1960-1975 có hiện tượng cười, khóc tập thể của các toán nữ thanh niên xung phong miền Bắc]. Cũng gọi là group hysteria (hysteria nhóm), mass hysteria (hysteria đại chúng).

248. Collective monologue: Độc thoại tập thể

Một hình thức diễn ngôn ngã qui (duy kỉ) trong đó trẻ 2-3 tuổi nói với nhau mà không có vẻ giao tiếp một cách có nghĩa, lời của một đứa trẻ dường như không liên hệ gì đến những trẻ khác. Cũng gọi là pseudoconversation (đối thoại giả), được Jean Piaget mô tả đầu tiên.

249. Collective self-esteem: (sự) Tự đánh giá tập thể

Sự tự đánh giá chủ quan của cá nhân về phần self-concept (khái niệm tự thân) dựa trên tư cách thành viên của mình trong các nhóm xã hội, bao gồm gia đình, bè lũ, khu liên gia, bộ tộc, thành phố, xứ sở, và vùng. Tự đánh giá tập thể thường được đo bằng Collective Self-Esteem Scale (Thước đo Tự đánh giá tập thể – CSES) năm 1992 của các nhà Tâm lý học xã hội Riia K. Luhtanen và Jennifer Crocker (1952-). Người tham gia sẽ đánh giá tư cách thành viên nói chung qua 4 tiểu cân: tự đánh giá tư cách thành viên của mình, đánh giá giá trị của nhóm, đánh giá kiến giải của những người khác về nhóm, và tầm quan trọng của nhóm đối với căn tính của mình.

250. Collective unconscious: Cái vô thức tập thể

(trong Tâm lý học phân tích): Một phần của cái vô thức bổ sung cho cái vô thức cá nhân, gồm những kí ức, bản năng và kinh nghiệm được mọi người chia sẻ. Theo Carl Gustav Young (1875-1961), những yếu tố tâm trí ấy được thừa kế và rồi được tổ chức thành các cổ mẫu, và trở thành hiển hiện trong giấc mơ, truyện cổ tích, huyền thoại, tôn giáo và những hiện tượng văn hoá khác. Cũng gọi là objective psyche (cái tâm khách quan), racial memory (ký ức giống loài), racial unconscious (cái vô thức giống loài).
251. Coming out: (sự) Bộc lộ giới tính

Bộc lộ mình là đồng tính ái nam, đồng tính ái nữ, song tính ái hay chuyển giới. Một tuyên bố như thế đôi khi có thể đưa tới những vấn đề với gia đình, người chủ thuê làm, hay bạn bè, và do đó có thể là một bước đi khó khăn, ngay cả đối với những người chấp nhận và thoải mái với định hướng giới tính của mình. Cũng gọi là coming out of the closet (ra khỏi phòng kín).

252. Community psychology: Tâm lý học cộng đồng

Ngành Tâm lý học quan tâm đến những tương tác cá nhân-môi trường và cách xã hội tác động đến sự vận hành của cá nhân và cộng đồng. Tâm lý học cộng đồng tập trung chú ý vào các vấn đề xã hội, các thiết chế xã hội, và những cơ cấu khác ảnh hưởng đến các cá nhân, nhóm và tổ chức. Các nhà nghiên cứu cộng đồng xem xét những cách mà cá nhân tương tác với nhau, với các nhóm xã hội (như các câu lạc bộ, nhà thờ, nhà trường, gia đình), và với văn hoá và môi trường rộng hơn. Các kết quả và phương pháp nghiên cứu được áp dụng vào tình trạng nghèo đói, lạm dụng chất gây nghiện, bạo lực, thất học và nhiều vấn đề xã hội khác.

253. Comparison level (CL): Trình độ so sánh

(trong Social Exchange Theory – Thuyết trao đổi xã hội): Tiêu chuẩn để một cá nhân đánh giá phẩm chất của bất kì mối quan hệ xã hội nào trong đó mình đang tham gia. CL rút ra từ kết quả trung bình của mọi thành quả mà cá nhân kinh qua trong những mối quan hệ tương tự trước đó hay cá nhân quan sát trong những mối quan hệ với người khác. Trong phần lớn trường hợp, những cá nhân mà những mối quan hệ trước đó cho thành quả tích cực với phí tổn thấp sẽ có CL cao hơn là những cá nhân trải nghiệm thành quả thấp với chi phí cao. Nếu tỉ suất thành quả-phí tổn của mối quan hệ hiện hành ở dưới mức CL, thì cá nhân sẽ không thoả mãn. CL được đề xướng bởi các nhà Tâm lý học Mĩ Harold H. Kelley (1921-) và John W. Thibault (1917-1986).

254. Comparative psychology: Tâm lý học so sánh

Nghiên cứu hành vi trong những giống loài khác nhau, tìm cách soi sáng những cơ chế nằm bên dưới và sự tiến hoá của hành vi. Thuật ngữ thường được áp dụng một cách lỏng lẻo vào bất kì hình thức nào của Tâm lý học động vật.

255. Compensation: (sự) Bù trừ

– (trong phân tâm học): Một cơ chế phòng vệ (theo Sigmund Freud) trong đó người ta toan tính bù đắp một sự thiếu khuyết cảm nhận được mà không thể thay đổi, chẳng hạn một thiếu khuyết về cơ thể, bằng cách vượt trội lên về một mặt khác (thay thế hay phát triển một sức mạnh hay năng lực ở một lĩnh vực khác). Khi hành vi thay thế này vượt quá mức được coi là cần thiết xét về trình độ bù trừ hay tình trạng thiếu khuyết thì có thể gọi là overcompensation (bù trừ quá đáng). Bù trừ có thể mang tính có ý thức hoặc vô thức. Nhà tâm thần học người Áo Alfred Adler (1870-1937) nhấn mạnh tầm quan trọng của điều này trong bộ môn Tâm lý học cá nhân của mình, đặc biệt là khái niệm “phức cảm tự ti” của ông. Tuy nhiên nhiều nhà Tâm lý học nhấn mạnh những khía cạnh tích cực của sự bù trừ trong việc giảm nhẹ những tác động của sự yếu kém hay thiếu khuyết.

– (trong thuyết phát triển nhận thức của jean Piaget): Một tiến trình tâm trí trong đó người ta nhận biết rằng bất cứ một thao tác nào cũng có một thao tác khác bù trừ cho các tác động của thao tác ấy.

256. Complete/ Completion test: Đo nghiệm hoàn tất

Một kiểu đo nghiệm trí khôn trong đó có một loạt khoản mục không hoàn tất và người trả lời cố gắng chọn ra từ gợi ý cho sẵn hay tự nghĩ ra để điền vào khoản mục (một câu, một từ, hay một chữ trong văn bản) bị thiếu. Hình thức phổ biến nhất là đo nghiệm hoàn tất con số. Cũng gọi là continuation problem (bài toán tiếp tục).

257. Complex: Phức cảm

– (trong phân tâm học): Một tập hợp những ý nghĩ, xúc cảm, thôi thúc và kí ức có chung một giọng điệu cảm xúc và đã bị loại bỏ một phần hay toàn bộ khỏi vô thức nhưng tiếp tục ảnh hưởng đến suy nghĩ, xúc cảm, và hành vi của một người. Khái niệm được đưa vào năm 1895 bởi thầy thuốc người Áo Joseph Bruer (1842-1925) trong sách Những nghiên cứu về chứng hysteria và sau đó được Sigmund Freud (1856-1939) và Carl Gustav Young (1875-1961) phỏng dụng. Từ complex phái sinh từ complexion theo nghĩa chuyển tiếp đã được thiết định vào thời vở kịch Hamlet của Shakespeare. Những phức cảm đã biết như: phức cảm bị hoạn, phức cảm Diana, phức cảm người cha, phức cảm tự ti, phức cảm người mẹ, phức cảm Oedipus…

– (dùng không chính thức): Một ám ảnh hay ám sợ.

258. Complex indicator: Chỉ thị phức cảm

(trong Tâm lý học phân tích): Một khía cạnh của câu trả lời hay đáp ứng trong đo nghiệm word-association (liên tưởng từ) bộc lộ tình trạng phức cảm. Carl Gustav Young đã phổ biến đo nghiệm này, lập danh sách những chỉ thị phức cảm chính trong bài viết “The Association Method” (Phương pháp liên tưởng) trong American Journal of Psychology (Tập san Tâm lý học Mỹ) năm 1910: một phản ứng bất thường đối với một từ, như cười phá lên hay đỏ mặt, hay thời gian phản ứng chậm trễ bất thường, lặp lại một từ kích thích, một liên tưởng phi lí hay quá xa, và không đáp lại được một từ kích thích.

259. Complex motives: Các động cơ phức hợp

Nhiều ham muốn đồng thời trong việc đạt được một mục tiêu. Chẳng hạn, các ham muốn có thể thích ứng và hướng về cùng mục tiêu (như làm việc nỗ lực vì ham muốn thành công, cũng như ham muốn tiền bạc) hay không thích ứng và hướng về những mục tiêu đối lập (như đạt được thành công thông qua làm việc đồng thời ham muốn nghỉ ngơi thư giãn).

250. Component instinct: Bản năng thành phần

(phân tâm học): Bất kì yếu tố cơ bản nào của bản năng tính dục như được xác định bởi nguồn bản năng của nó (miệng, hậu môn, v.v.) và có chừng mực thấp hơn về mục đích và đối tượng tính dục. Sigmund Freud đưa khái niệm vào năm 1905 trong sách Ba tiểu luận về lí thuyết tính dục. Trong một bài viết cho từ điển bách khoa năm 1923, ông giải thích: “bản năng tính dục, biểu thị năng động của nó trong đời sống tâm trí gọi là “libido” (dục năng), được cấu tạo bằng những bản năng thành phần; libido có thể một lần nữa phân ra thành những thành phần ấy, và những thành phần ấy chỉ hợp nhất dần từng bước thành các tổ chức xác định rõ ràng… Giai đoạn tổ chức thứ nhất (pregenital – tiền sinh thực khí) là giai đoạn oral (miệng). Cũng gọi là instintual component (thành phần bản năng), partial instint hay part instint (bản năng bộ phận) .

Nguồn: Hoàng Hưng (2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 29) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024