Co (3)

301. Continental philosophy: Triết học lục địa

Những sự phát triển về triết học có nguồn gốc từ lục địa châu Âu vào giữa thế kỷ XX, bao quát các phong trào như Hiện tượng học (Phenomenology), Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism), thuyết Cấu trúc (Structuralism) và phong trào Giải cấu trúc (Deconstruction). Thường tương phản với truyền thống Anglo-Saxon của Triết học phân tích (Analytic Philosophy).

302. Contingency management: (sự) Quản trị cơ duyên

Một kĩ thuật trị liệu hành vi dựa trên việc điều kiện hoá thao tác (operant conditioning), trong đó người điều trị và các thành viên gia đình bỏ qua hành vi mang tính triệu chứng của rối loạn của cá nhân đang được điều trị và tích cực tưởng thưởng những hành vi không tương hợp với rối loạn. Trong nửa thập niên đầu thế kỷ XXI, quản trị cơ duyên bắt đầu được áp dụng rộng rãi hơn ở Hoa Kì, đặc biệt trong các chương trình chữa trị ma tuý và các sáng kiến về sức khoẻ công ty. Hậu quả là những người mắc HIV vô gia cư bắt đầu nhớ uống thuốc khi được trả một ít tiền nhỏ, và tỉ lệ tái phạm về ma tuý giảm bớt đáng kể.

303. Contingency theory of leadership effectiveness: Thuyết cơ duyên về hiệu quả lãnh đạo. Nhiều hình mẫu khác nhau dự đoán rằng hiệu năng lãnh đạo phụ thuộc vào tương tác giữa các đặc tính cá nhân của người thủ lĩnh và tính chất của tình huống nhóm.

Một hình mẫu của phong cách lãnh đạo và hiệu quả lãnh đạo được đề xướng bởi nhà Tâm lý học Áo gốc Mĩ Fred Edward Fiedler (1922-) trong sách *A Theory of Leadership Effectiveness – Một lí thuyết về hiệu quả lãnh đạo (*1967), theo đó một phong cách lãnh đạo mệnh lệnh, độc đoán có hiệu quả nhất khi hoàn cảnh rất thuận lợi hoặc rất không thuận lợi cho người lãnh đạo, và phong cách không lệnh mệnh thì hiệu quả nhất trong những hoàn cảnh trung gian. Ba nhân tố then chốt xác định sự thuận lợi của hoàn cảnh đối với người lãnh đạo là: các quan hệ lãnh đạo-thành viên (lãnh đạo được các thành viên nhóm yêu thích, kính trọng đến đâu), quyền lực của chức vị (uy quyền của lãnh đạo đối với các thành viên nhóm lớn đến đâu) và cấu trúc của nhiệm vụ (nhiệm vụ của nhóm được cấu trúc thế nào).

304. Continuity theory: Thuyết liên tục

Một lí thuyết học mà nhà Tâm lý học Mĩ Clark L. Hull và một số người khác ủng hộ, cho rằng một con vật hay con người học được một lượng nhỏ trong tất cả những kích thích mà nó gặp, do đó học là phải từng bước và liên tục.

305. Continuous recognition task: Bài tập nhận biết liên tục

Một bài tập về ghi nhớ trong đó một loạt khoản mục được bày ra, với vài khoản mục được bày nhiều lần. Người làm bài phải cho biết mỗi khoản mục là cũ (đã thấy trước đó) hay mới (chưa thấy trong loạt).

306. Continuous reinforcement: (sự) Củng cố liên tục

(trong việc điều kiện hoá thao tác – operant conditining) Một lịch trình củng cố trong đó vật hoặc người được tưởng thưởng sau mỗi đáp ứng với kích thích.

307. Control group: Nhóm kiểm soát

Một thiết kế thử nghiệm, một nhóm so sánh gồm những người tham gia nghiên cứu hay chủ thể, khi biến tố độc lập bị thao túng, thì không được chữa trị như những người trong nhóm thử nghiệm, nhưng về một số mặt lại được chữa trị y như thế, nhằm cung cấp cơ sở để đánh giá các hiệu quả chữa trị. Việc sử dụng nhóm thử nghiệm lần đầu tiên được mô tả trong “Statistical Inquiries into the Efficacy of Prayer” (Đưa thẩm tra thống kê vào Hiệu quả của sự Cầu nguyện) bởi Sir Francis Galton (1822-1911) nhà thám hiểm, nhà khoa học tài tử và Tâm lý học người Anh, xuất bản trong tạp chí Fortnightly Review năm 1872. Galton giải thích ý tưởng này như sau: “Chúng ta chỉ đơn giản tìm kết quả cuối cùng – những người cầu nguyện có đạt được mục tiêu của mình thường xuyên hơn những người không cầu nguyện hay không, nếu những người không cầu nguyện sống trong những điều kiện về mọi mặt giống như những người cầu nguyện”. Kết quả ông đưa ra là cầu nguyện không có hiệu quả.

308. Controlled association: (sự) Liên tưởng có kiểm soát

Một kĩ thuật trong đó người ta qui định một hạn chế cho người tham gia phải tuân theo khi đáp ứng với kích thích. Ví dụ: trong một thử nghiệm về việc trình bày những từ ngữ kích thích, người tham gia có thể được chỉ đạo đưa ra một từ đồng nghĩa hay từ phản nghĩa của mỗi từ.

309. Conventional morality: Đạo lí qui ước

Giai đoạn thứ hai trong sự phát triển đạo lí theo Kohlberg, trong đó sự đúng-sai được xác định theo qui ước và “điều mọi người nói”. Thuyết Kohlberg chia sự phát triển đạo lí làm ba giai đoạn: Tiền qui ước (trình độ 1 và 2), qui ước (trình độ 3 và 4) và hậu qui ước (trình độ 5 và 6). Giai đoạn hai trình độ 3: hành xử đạo lí của trẻ được hướng dẫn bởi mục đích có được sự tán thưởng và tránh việc không tán thưởng của người khác (tôi sẽ không nói dối vì như thế mọi người kính trọng tôi), và trình độ 4 bởi những luật tắc cứng rắn của “luật và trật tự” (tôi sẽ không nói dối vì điều đó bị cấm).

310. Convergence-divergence: Đồng qui-bất đồng qui

Một phong cách nhận thức được xác định bởi hai phương thức khác biệt một cách triệt để. Một cực là convergent thinking (tư duy đồng qui), có đặc trưng là xu hướng đi đến một lời giải duy nhất cho một vấn đề, thường dính líu đến việc tổng hợp thông tin, điển hình là tư duy phân tích, diễn dịch trong đó các luật chính thức được tuân theo, như trong toán học. Nó mang tính logic, được kiểm soát một cách ý thức, hướng về thực tại, và phụ thuộc nhiều vào kiến thức và các kĩ năng đã học từ trước, và được đo bằng các đo nghiệm IQ (chỉ số trí khôn) qui ước. Cực bên kia là divergent thinking (tư duy bất đồng qui), có đặc trưng là sự sản sinh những ý tưởng mới, đa dạng, liên quan đến vấn đề phải giải quyết. Những người tư duy bất đồng qui ưa thích và thể hiện tốt hơn ở những vấn đề có kết cục mở, không có lời giải duy nhất. Những đo nghiệm về tư duy bất đồng qui nhắm vào những kiểu tư duy mang tính sáng tạo nhiều hơn, như “anh/chị nghĩ có bao nhiêu cách sử dụng một viên gạch?”. Trong một nghiên cứu các nam sinh, nhà Tâm lý học người Anh Liam Hudson (1933-2005) thấy rằng phần lớn bé trai có thể nghĩ đến 3 hay 4 đáp án trong 3 phút, nhưng phần lớn những trẻ được coi là có tư duy bất đồng qui thì cho 10 đáp án hoặc hơn. Một số nhà Tâm lý học đánh đồng tư duy bất đồng qui với tính sáng tạo. Khái niệm được đưa vào năm 1946 bởi nhà Tâm lý học Mĩ Joy Paul Guilford (1897-1987); sự sản sinh đồng qui và sự sản sinh bất đồng qui là 2 trong 6 kiểu thao tác tâm trí khác nhau trong khối vuông Guilford.
311. Conversion: (sự) Chuyển hoá

– Một sự thay đổi về chất, về hình thức, tính chất hay chức năng.

– [trong Phân tâm học] Một cơ chế phản vệ trong đó một xung đột vô thức làm dấy lên sự lo âu được biểu hiện một cách tượng trưng, mong muốn hay ý tưởng bị đè nén được biến hoá thành một triệu chứng thể chất như đau đớn, tê liệt, hay mất chức năng cảm giác. Sigmund Freud (1856-1939) đưa khái niệm này vào năm 1894 trong một bài viết trên tờ The Neuro-Psychoses of Defense (Các bệnh Tâm-thần kinh về Phòng vệ) và phát triển nó vào năm 1908/09 trong bài “Some General Remarks on Hysterical Attacks” (Vài lưu ý tổng quát về các cơn hysteria).

312. Coolidge effect: Hiệu ứng Coolidge

Một sự gia tăng đáp ứng và giảm bớt về tính dục trong thời kỳ trơ ì (refractory period) về tính dục sinh ra khi có bạn tình mới [đặt theo tên của tổng thống Mỹ Calvin Coolidge (1872-1933) và câu chuyện “nguỵ sử” sau: Trong một lần đi thăm trại gà lấy trứng với chồng vào những năm 1920, Đệ nhất Phu nhân Coolidge rất ấn tượng với tần suất nhảy mái của các con gà trống và bà bảo một người tuỳ tùng lưu ý chuyện đó với chồng mình. Tổng thống Coolidge hỏi liệu mỗi chú gà có luôn luôn nhảy cùng một con mái hay không, và được trả lời rằng, để duy trì tần suất nhảy mái cao, mỗi chú gà phải được ghép với một con mái mới sau vài ngày. Tổng thống bảo người tuỳ tùng lưu ý phu nhân về chuyện ấy].

313. Cooperative principle: Nguyên lí hợp tác

Một qui tắc rút từ các văn bản của nhà Tâm lý học người Anh Herbert Paul Grice (1913-88), theo đó các người nói thường tìm cách hợp tác khi truyền thông, và đặc biệt thường toan tính để mình [được thấy là] nói sự thật, có thông tin, thích đáng và minh bạch – theo các phương châm của Grice về phẩm, lượng, sự thích đáng, cách thức của hội thoại [trong văn bản gốc của Grice – bài “Logic and conversation” (1975) –, ông gọi tên phương châm thứ ba là quan hệ (relation) và giải thích có nghĩa là thích đáng (relevant) – ND]. Người nói có thể coi thường một trong những phương châm này, chẳng hạn nói dối, mỉa mai, nhưng sự hội thoại thông thường được tiến hành theo giả định là những phương châm này được tuân theo. Một số nhà ngữ học tin rằng sự thích đáng là nguyên lí nền tảng của giao tiếp giữa người với người.

314. Coping-skills training: (sự) Huấn luyện kĩ năng đối phó

Liệu pháp hoặc những can thiệp về giáo dục để gia tăng năng lực quản trị những tình huống khó chịu hay gây lo âu, đi từ những vấn đề tương đối thông thường (thi cử, li hôn) đến các rối loạn tâm trí (như ám sợ). Các kiểu kĩ năng được đưa vào một cách thích hợp với tình huống và có thể bao gồm các năng lực nhận thức, hành xử và cảm xúc.

315. Copulatory behavior: Hành vi giao phối

Các mẫu hành vi khi giao phối. Khác với ANIMAL COURTSHIP (sự ve vãn ở động vật – nói về hành vi chuẩn bị giao phối). Hành vi giao phối thường bao gồm mounting (leo lên, phủ), intromission (thâm nhập – đút dương vật vào âm hộ) và ejaculation (phóng tinh). Ở một số loài (như chuột cống), cần nhiều lần thâm nhập trước khi phóng tinh, và con cái phải nhận nhiều lần thâm nhập để cho trứng được cấy vào tử cung. Ở những loài khác, hành vi giao phối là cần thiết để đưa tới việc rụng trứng. Ở nhiều loài đơn phối ngẫu mang tính xã hội (social monogamous), như loài người, hành vi giao phối có thể xảy ra không phụ thuộc vào chu trình rụng trứng của con cái.

316. Copying mania: Chứng cuồng sao chép

Một bận tâm thái quá bắt chước lời nói hay hành động của người khác, đôi khi quan sát thấy ở chứng tâm thần phân liệt catatona (hay còn gọi là hội chứng căng trương lực, là một rối loạn tâm thần và ảnh hưởng đến khả năng di chuyển bình thường của một người. Những người bị ảnh hưởng có thể gặp nhiều triệu chứng, phổ biến nhất là sững sờ) hay một số hội chứng do đặc thù văn hoá như amurakh và myriachit (của vùng Siberia).

317. Core relational themes: (các) Đề tài có quan hệ cốt lõi

– [thuyết định giá nhận thức về cảm xúc – Cognitive Appraisal Theory of Emotions]: Những phán đoán của cá nhân về ý nghĩa chuyên biệt của những sự kiện cụ thể đối với bản thân, kết quả là sinh ra các trạng thái cảm xúc chuyên biệt (giận dữ, vui vẻ, ganh tị, xấu hổ…). Đề tài có quan hệ cốt lõi có 3 thành tố: thích đáng với mục đích, dính líu đến cái tôi, và tiềm năng đối phó.

– Các mẫu lặp lại về quan hệ với người khác được coi là được xác định bởi quan hệ với cha mẹ và những cá nhân có ảnh hưởng khác trong thời ấu thơ. Những đề tài này có thể bao gồm các mẫu phụ thuộc và các mẫu không tin cậy, v.v…

318. Core self-evaluation: (sự) Tự đánh giá cốt lõi

Một nét nhân cách nền tảng, phản ánh sự tự đánh giá cao, tự tin cao về năng lực kiểm soát tình huống (locus of control) và ít khả năng bị tác động thần kinh. Khái niệm được đưa vào bởi nhà nghiên cứu quản trị người Mĩ Timothy Alan Judge (1962-) và 2 đồng nghiệp trong Journal of Applied Psychology (Tập san Tâm lý học ứng dụng) (1998).

319. Countercathexis: (sự) Phản dẫn cảm

[Phân tâm học]: Diễn trình phòng tránh các ý nghĩ bị đè nén đang cố hết sức phá ra để lên tầng ý thức, bằng một lực tương đương vận hành theo hướng đối lập. Lần đầu tiên được phát biểu vào năm 1900 bởi Sigmund Freud (1856-1939) trong sách Diễn giải các giấc mơ, và sau đó được dùng để giải thích sự vận hành của cơ chế phòng vệ. Cũng gọi là anticathexis [Cathexis: sự đưa các ý nghĩa xúc cảm vào một hoạt động, đối tượng hay ý tưởng – ND]

320. Covariation principle: Nguyên lý đồng biến

[Trong thuyết qui kết – Attribution theory]: Xu hướng qui kết hành vi cho một nguyên nhân chỉ có mặt khi hành vi diễn ra, hay một nguyên nhân được quan sát thấy biến đổi cùng với hành vi. Một ví dụ điển hình là xu hướng qui kết hành vi cạnh tranh cho những nguyên nhân bên ngoài ở những người được thấy là hành xử cạnh tranh khi tương tác với các đối tác cạnh tranh, nhưng lại qui kết tính cạnh tranh cho những nguyên nhân về tâm tính bên trong ở những người có vẻ hành xử cạnh tranh một cách độc lập với các hành động của đối tác.

321. Counterattitudinal behavior: Hành vi bất nhất

Hành vi không nhất quán với một thái độ. Ví dụ: có thái độ tiêu cực đối với một ứng viên chính trị nhưng lại bằng lòng góp tiền cho quỹ tranh cử của người ấy.

322. Counterfactual thinking: Tư duy phản thực tế

– Tưởng tượng ra những cách mà các sự kiện có thể đã xảy ra khác đi. Điều này thường bao gồm những cảm thức hối tiếc hay thất vọng.

– Bất cứ diễn trình suy nghĩ nào dựa trên phát biểu có điều kiện kiểu “nếu X thì Y” trong đó X trái với thực tế, không thể có hay không thể xác minh bằng trải nghiệm. Tư duy phản thực tế kiểu 1 là phổ biến trong những giả định lịch sử như “nếu Hitler đã bị giết vào tháng 7 năm 1944 thì…”. Tư duy phản thực tế kiểu 2 và 3 có thể đóng vai trò hữu ích trong việc đánh giá các liên can của một lí thuyết HEURISTIC (nghiệm suy) và trong THOUGHT EXPERIMENTS (các thử nghiệm về suy tưởng).

323. Covert negative reinforcement: (sự) Củng cố tiêu cực ngầm

[trong Behavior Therapy – Liệu pháp hành vi]: Một kĩ thuật trong đó người bệnh thoạt tiên tưởng tượng một sự kiện khó chịu sau đó chuyển qua tưởng tượng đi vào hành vi đích. Ví dụ: tưởng tượng mình đơn độc trong một nhà hàng, cảm thấy không an toàn và không vui, sau đó chuyển qua một cảnh tượng trong đó mình đang hẹn hò với một người khác và được chấp thuận.

324. Covert positive reinforcement: (sự) Củng cố tích cực ngầm

[trong Behavior Therapy – Liệu pháp hành vi]: Một kĩ thuật trong đó người bệnh tưởng tượng mình đang thể hiện một hành vi đáng mong muốn dẫn tới một hậu quả vui thú và cuối cùng diễn tập lại hành vi ấy với hy vọng nó sẽ được tuân thủ. Cũng gọi là Covert reinforcement.

325. Creativity test: Đo nghiệm tính sáng tạo

Bất kỳ đo nghiệm Tâm lý học nào được thiết kế nhằm nhận dạng tư duy sáng tạo hay tư duy bất đồng quy. Những đo nghiệm hiện hành tập trung vào nhiều nhân tố đa dạng, như sự thành thục với từ ngữ hay ý tưởng hay năng lực sản sinh những liên tưởng độc đáo; các nhiệm vụ đặt ra có thể bao gồm việc tìm ra những giải pháp cho các vấn đề thực hành, gợi ý những đoạn kết khác nhau cho một câu chuyện, hay liệt lê những ứng dụng khác nhau của đồ vật.

326. Criminological psychology: Tâm lý học tội phạm

Một lĩnh vực của Tâm lý học ứng dụng, chuyên về những vấn đề tâm lí liên kết với hành vi tội phạm, điều tra tội phạm, và xử lí phạm nhân. Đôi khi được dùng (một cách không chuẩn xác) đồng nghĩa với forensic psychology (Tâm lý học toà án).

327. Criterion validity: Tính hiệu lực theo tiêu chí

[trong psychometrics – tâm lí lượng pháp]: Sự đo lường hiệu lực dựa trên việc xác định sự chính xác của mối quan hệ giữa những số điểm đo nghiệm với một tiêu chí độc lập đã được chấp nhận như một chuẩn để phán xét đo nghiệm ấy. Ví dụ: trong việc xác định hiệu lực của một đo nghiệm về trầm cảm, tiêu chí có thể là những chẩn đoán trầm cảm của các nhà Tâm lý học hay nhà điều trị tâm thần; trong việc xác định hiệu lực của một đo nghiệm về năng lực học đường, tiêu chí có thể là những điểm số về đo nghiệm thành tích học ở trường.

328. Critical theory: Thuyết phê phán

Một lí thuyết triết học về văn hoá nói chung và về văn học nói riêng, liên kết đặc biệt với trường phái Frankfurt, bác bỏ khả năng có một môn khoa học xã hội thoát lí khỏi giá trị (value-free) và toan tính hướng đến những nhân tố mang tính lịch sử và ý hệ có ảnh hưởng đến văn hoá và hành vi con người. Những người đề xướng quan niệm thuyết này như một lí thuyết mang tính quy phạm hơn là thực chứng hay mô tả, và tìm cách phơi bày những mâu thuẫn trong các hệ thống niềm tin của con người và những thói quen của xã hội nhằm thay đổi chúng. Khi tập trung về các vấn đề Tâm lý học, cũng gọi là critical psychology – Tâm lý học Phê phán.

329. Cross-adaptation: (sự) Thích nghi giao tạp

Sự tạm thời mất nhạy cảm với một kích thích, đặc biệt là mùi vị, sau khi chịu một kích thích khác (như muối ăn sẽ làm giảm nhạy cảm với các muối khác, đường kính sẽ làm giảm nhạy cảm với những vị ngọt khác).

330. Cross-cultural survey: (sự) Khảo sát xuyên văn hoá

Khảo sát để so sánh các nhóm văn hoá hoặc văn hoá phụ khác nhau.

Nguồn: Hoàng Hưng (2000 thuật ngữ Tâm lý học (32) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024