Từ In (1)

781. Induction: (sự) Qui nạp, Cảm ứng

– Qui nạp: Một hình thức suy luận, cũng gọi là empirical induction (qui nạp quan nghiệm), trong đó một luật hay một nguyên lí tổng quát được suy ra từ những ví dụ riêng lẻ đã được quan sát. Nhiều người tin rằng hình thức suy luận này hữu hiệu trong thực hành, và có niềm tin rộng rãi rằng nó làm thành nền tảng của mọi khoa học quan nghiệm, nhưng triết gia người Scotland David Hume (1711-76) cho thấy rằng suy luận qui nạp là vô hiệu về mặt logic. Ông viết trong A Treatise of Human Nature (Luận về Bản chất Con người) năm 1739 rằng: từ tiên đề Tất cả các con thiên nga đã được quan sát đều màu trắng, ta không thể kết luận rằng Vì thế, mọi con thiên nga đều màu trắng. Có một tiên đề bị thiếu, đó là Tất cả các con thiên nga đều đã được quan sát, điều không đúng và không bao giờ có thể đúng đối với một mệnh đề phổ quát trong khoa học được coi là áp dụng xuyên suốt thời gian và không gian. Hume chỉ ra rằng sự đồng dạng của tự nhiên có thể biện minh cho sự qui nạp, dưới hình thức của tiên đề Các quan sát tương lai sẽ tương tự những quan sát đã qua, nhưng nó không thể được biện minh chỉ bởi một sự hấp dẫn đối với bản thân sự qui nạp, và trong bất cứ sự kiện nào cũng không đúng một cách tổng quát – chẳng hạn: có những con thiên nga đen ở Úc. Sự không nhất quán hiển hiện này được gọi là the problem of induction (vấn đề của sự qui nạp) hay Hume’s problem (vấn đề Hume), và được giải quyết bằng sự thấu hiểu rằng chứng cứ quan nghiệm được sử dụng để nguỵ chứng (chứng minh là sai) hơn là xác nhận các giả thuyết.

– Cảm ứng: Sự nảy sinh gián tiếp một trải nghiệm giác cảm (cảm giác) mà không có kích thích trực tiếp của những cơ quan thụ cảm, bởi sự kích thích của những diễn trình giác cảm phụ hoặc có liên quan.

– Cảm ứng: tên được đặt bởi nhà sinh lí học người Nga Ivan Petrovich Pavlov (1849-1936) cho positive induction (cảm ứng tích cực), trong đó đáp ứng với một kích thích kích động có điều kiện được gia tăng nếu nó được tiếp ngay sau một kích thích ức chế; và negative induction (cảm ứng tiêu cực) trong đó đáp ứng với một kích thích ức chế có điều kiện được gia tăng nếu nó được tiếp ngay sau một kích thích kích động.

782. Industrial/organizational psychology: Tâm lý học kĩ nghệ/tổ chức

Một lĩnh vực Tâm lý học ứng dụng trong đó các kết quả của nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng vào phúc lợi và hiệu năng của người lao động được áp dụng vào những vấn đề nổi lên trong kĩ nghệ và các tổ chức phi-kĩ nghệ khác. Công trình trong lĩnh vực này tập trung vào sự hướng nghiệp, các vấn đề động cơ làm việc và thoả mãn về công việc, tình trạng *absenteeism (*cố ý vắng mặt, lãn công) trong các tổ chức, việc cải thiện giao tiếp trong các tổ chức, thiết kế và thực hiện trong các khoá huấn luyện, dạy các kĩ năng xã hội và quan hệ người với người, cải thiện các cấu trúc vận động, đánh giá hiệu năng công việc, và các vấn đề về an toàn và phúc lợi. Các ngành chính bao gồm Personnel Psych. (Tâm lý học nhân sự), Ergonomics (công thái học) hay Tâm lý học về các nhân tố con người, và Tâm lý học tổ chức. Nó tương ứng đại khái với Occupational Psych. (Tâm lý học nghề nghiệp), thuật ngữ thường được ưa dùng ở Anh và châu Âu, dưới cái ô lớn của Work Psych. (Tâm lý học lao động).

783. Infantile amnesia: (sự) Mất trí nhớ về tuổi thơ

Tình trạng người trưởng thành không thể nhớ những kí ức đúng thật về những sự kiện xảy ra trước tuổi lên ba. Cũng gọi là Childhood amnesia. Đứng trước chứng cứ tràn ngập của hiện tượng này, ngay cả nhà thần kinh học người Áo Sigmund Freud (1856-1939) cũng buộc phải chấp nhận nó trong cuốn sách Tree Essays of the Theory of Sexuality (Ba tiểu luận về Lí thuyết Tính dục) năm 1905.

784. Inferiority complex: Phức cảm tự ti

(trong Tâm lý học cá nhân của nhà tâm thần học người Áo Alfred Adler (1870-1937) và các môn đồ) Phức cảm của những ý nghĩ có tính cảm xúc nổi lên từ nỗi sợ và oán trách bị dồn nén liên kết với tâm trạng tự ti có thật hay tưởng tượng, kết quả là sự bù trừ dưới hình thức gây gổ hay co mình lại. Adler đưa ra khái niệm vào năm 1907 trong cuốn sách Study of Organ Inferiority and its Psychical Compensation (Nghiên cứu về sự tự ti về cơ thể và sự bù trừ về mặt tâm thần).

785. Infinite regress: (sự) Truy hồi bất tận

Một lập luận chủ ở chỗ hay hàm ý một chuỗi bước đi bất tận. Chẳng hạn: việc nội quan không thể là một nguồn có hiệu lực và hoàn toàn cho sự tự biết mình, vì nó đòi hỏi khả năng thực hiện một hành động tâm trí (như nhớ lại sinh nhật gần nhất của mình) trong khi cùng lúc quan sát bản thân làm việc ấy; nhưng như vậy thì hành động nội quan là một phần của diễn trình tâm trí, và để có một sự hiểu hoàn toàn, cần phải quan sát hành động quan sát, và cứ thế, điều đó rõ ràng là không thể được trong trường hợp này. Đây là một ví dụ của sự truy hồi bất tận luẩn quẩn: một sự truy hồi bất tận chỉ là luẩn quẩn khi nó dẫn đến một kết luận phi lí, và trong những trường hợp khác nó thường là không có vấn đề.

786. Inflation of consciousness: (sự) Lạm phát ý thức

(trong Tâm lý học phân tích) Sự mở rộng ý thức của một người ra khỏi các giới hạn thông thường, xuất hiện thông qua sự tự đồng nhất với một điển mẫu, nhân vật hư cấu, hay, trong một số chứng loạn tâm, tự đồng nhất với một người nổi tiếng, kết quả là một ý thức quá lố về tầm quan trọng của bản thân thường được bù trừ bằng những cảm thức tự ti. Carl Gustav Jung (1875-1961) mô tả tâm thức này xuất hiện như thế nào khi nội dung của điển mẫu khống chế tâm lí bằng một kiểu lực sơ khai và buộc nó vượt quá những biên giới của nhân tính. Hậu quả là một thái độ khoa trương, mất ý chí tự do, hoang tưởng và nhiệt huyết cho cả cái tốt cũng như cái xấu.

787. Ingratiation: (sự) Lấy lòng

Một hình thức tự trình bày có tính toán nhằm gia tăng sự hấp dẫn trong con mắt người khác. Nó được khảo sát lần đầu tiên vào đầu thập kỉ 1990 bởi nhà Tâm lý học Mĩ Edward Ellsworth Jones (1926-93), ông quan sát ba hạng sách lược quan trọng nhất thường được sử dụng để chiếm được sự ưu ái của một ai đó: other-enhancement (khen tụng người khác); opinion conformity (thuận theo ý kiến); biased self-presentation (tự trình bày một cách thiên kiến). Thêm vào đó, nếu hoàn cảnh cho phép, một người lấy lòng thường đáp lại sự ưu ái cho người là mục tiêu lấy lòng. Nghiên cứu đã bộc lộ rằng những sách lược lấy lòng này thường thành công trong việc gợi sự yêu thích, và khi thành công, người lấy lòng thường tin rằng mình đã không sử dụng sách lược.

788. Inhibited orgasm: (sự) Cực khoái bị ức chế

Tên khác của female orgasmic disorder (rối loạn cực khoái nữ) và male orgasmic disorder (rối loạn cực khoái nam).

789. Inhibition: (sự) Ức chế

– Hành động hay diễn trình kìm hãm hay phòng ngừa điều gì đó, hay tình trạng bị kìm hãm hay phòng ngừa.

– Sự ngưng hay kiểm soát một diễn trình tâm lí, như khi hành động của một neuron, nội tạng hay hạch bị gián đoạn do hành động của một xung động thần kinh hay một hormone.

– Sự yếu đi của một đáp ứng có điều kiện do sự dập tắt hay do một đáp ứng vô điều kiện bởi thói quen, hay do xảy ra một kích thích làm lãng trí.

– Một trạng thái hoặc điều kiện tâm lí có đặc trưng là thiếu tự tin và dè dặt trong hành vi biểu hiện.

– (trong phân tâm học) Sự kìm hãm vô thức một sự thúc đẩy hay xung lực.

790. Inhibition of inhibition: (sự) Ức chế ức chế

Tên khác của disinhibition (giải ức chế).

791. Incidental learning: (sự) Học tình cờ

Sự học không có dự kiến, cố ý hay chủ ý, và học được như kết quả của một hoạt động tâm trí khác, có thể không liên quan. Một số lí thuyết gia tin rằng việc học nhiều khi diễn ra mà không hề do chủ ý học, xảy ra tình cờ với việc xử lí thức nhận (nhận thức) thông tin khác.

792. Incident process: Diễn trình tình cờ

Một hệ thống trong đó người học bắt đầu với các dữ kiện bất cập và hỏi những câu hỏi để có được thông tin bổ sung. Người dạy có mọi dữ liệu nhưng chỉ bộc lộ một ít vào lúc bắt đầu, rồi bộc lộ thêm khi trả lời những câu hỏi cụ thể, để cho nhóm người học có thể đi đến quyết định. Hệ thống được thiết kế để dạy kĩ năng phân tích, tổng hợp, và phát vấn, thích hợp với việc giải quyểt vấn đề và các kĩ thuật khảo sát.

793. Inclusion: (sự) Học gộp

(trong giáo dục) Phương pháp dạy các học sinh thiểu năng, bao gồm mọi bậc trí khôn, chỉ trừ những người ở dưới một trình độ tối thiểu, gộp vào chung một lớp với những học sinh khác, theo một cách đáp ứng nhu cầu của mọi học sinh.

794. Incongruity theory of humor: Thuyết tréo ngoe trong hài hước

Một cách giải thích khả năng hài hước gây cười, nhấn mạnh việc đặt kề nhau những yếu tố không tương thích hay mâu thuẫn. Những lí thuyết như thế có nguồn trong công trình của triết gia người Đức Immanuel Kant (1724-1804) và Arthur Schopenhauer (1788-1860), triết gia người Anh Herbert Spencer (1820-1903), và Sigmund Freud.

795. Incorporation: (sự) Nội nhập

(trong thuyết phân tâm) Hoang tưởng rằng mình đã tiêu hoá một vật bên ngoài, vật ấy được cảm thấy hiện diện một cách vật lí bên trong cơ thể. Theo thuyết này, hiện tượng xảy ra đầu tiên trong giai đoạn Miệng, khi đứa trẻ hoang tưởng rằng mình đã tiêu hoá vú mẹ. Incorporation (nội nhập) thường bị lẫn với Identification (đồng nhất hoá)Introjection (tiếp nhập).

796. Incorporation dream: Giấc mộng nội nhập

Một giấc mộng có nội dung hoàn toàn hay một phần lấy từ kích thích giác cảm (cảm giác) xảy ra cùng trong lúc ấy.

797. Incubation of anxiety: (sự) Ấp ủ lo âu

Sự gia tăng một lo âu có điều kiện xảy ra với sự trình hiện một kích thích có điều kiện nhưng không được củng cố. Chẳng hạn, một người mắc chứng ám sợ nhện có thể trở nên sợ nhện hơn mỗi khi gặp một con nhện, ngay cả khi không có lần nào đi kèm với một sự cố chấn thương như bị nhện cắn. Lần đầu được đề xướng bởi Hans Eysenck như nền tảng của thuyết điều kiện hoá của bệnh thần kinh.

798. Independent living: (sự) Sống độc lập

Một phong trào cải cách triết học và dân sự cổ vũ các quyền của những người thiểu năng được tự quyết cuộc sống của mình và là thành viên đầy đủ, năng sản của xã hội, có được những quyền tự do và cơ hội giống như những cá nhân không bị thiểu năng. Trung tâm của triết lí này là các khái niệm về tự quyết và tự trọng, sự hỗ trợ đồng đẳng, và các cải cách chính trị xã hội. Các Centers for Independent Living (CIL) (Trung tâm Sống độc lập) là những tổ chức vô vị lợi có nhân viên điều hành là những cá nhân thiểu năng, khuyến khích sự tự túc và tự quyết bằng cách cung cấp thông tin và các dịch vụ tham vấn, tư vấn đồng đẳng và huấn luyện sống độc lập. CIL cũng nhân danh các cá nhân thiểu năng bênh vực pháp lí và đấu tranh cho sự thay đổi về xã hội của họ.

799. Independent phenomena: Hiện tượng độc lập

(trong Parapsychology – Cận tâm lí học) Bất kì hiện tượng bất bình thường nào có vẻ như xảy ra độc lập với mọi nhân tố con người, không thể gọi là Telepathy (thần giao cách cảm) hay Psychokinesis (tâm vận). Có thể bao gồm những dữ kiện ghi lại hình và âm thanh của hoạt động poltergeist (ma hiện) trong các nhà trống.

800. Independent self-construal: (sự) Chủ quan độc lập về bản thân

Một cái nhìn chủ quan về bản thân nhấn mạnh những nét nổi bật và thành tích độc đáo của bản thân và hạ thấp sự gắn vào một mạng lưới các quan hệ xã hội.

801. Innate idea: Ý tưởng bẩm sinh

Một ý tưởng mang tính bẩm sinh hơn là được học qua trải nghiệm. Triết gia Pháp René Descartes (1596-1650) tin rằng ý tưởng của Thượng đế được bẩm sinh, và triết gia Đức Gottfried Wilhelm Leibnitz (1646-1716) tin rằng những sự thật hiển nhiên về toán học như 1+1=2 là bẩm sinh, nhưng các triết gia duy nghiệm người Anh John Locke (1632-1704), Georges Berkeley (1685-1753) và David Hume (1711-1961) bác bỏ các ý tưởng bẩm sinh và ưu ái thuyết tabula rasa (tờ giấy trắng). Ý niệm Innate idea được làm sống lại bởi nhà Tâm lý học Thuỵ Sĩ Carl Gustav Jung (1875-1961) trong khái niệm vô thức tập thể, bởi nhà ngữ học và triết gia Mĩ Avram Noam Chomsky (1928-) trong các khái niệm universal grammar (ngữ pháp phổ quát)language acquisition device (phương sách thụ đắc ngôn ngữ).

802. Inner speech: Lời nói nội tâm

Sự sử dụng từ ngữ hay ngôn ngữ mà không phát ra thành tiếng.

803. Inoculation theory: Thuyết tiêm nhiễm

Thuyết về sự kháng cự đối với sự thuyết phục, theo đó những thái độ và niềm tin thông thường nhất ít nhiều khó thay đổi thông qua việc bị tác động bởi những cuộc tấn công nhẹ lặp đi lặp lại (tương tự kháng thể sinh ra qua tiêm chủng). Cultural truisms (Những sự thật hiển nhiên về văn hoá) mà phần lớn mọi người không hề nghe thấy bị chất vấn sẽ dễ bị thuyết phục ngược lại, vì các lập luận phòng vệ không được phát triển, nhưng khi trải qua một diễn trình tiêm nhiễm nhẹ, thì sự kháng cự sẽ được gia tăng đáng kể; sau đó nếu bị tấn công mạnh, thì chúng sẽ có sức kháng cự mạnh hơn, ngay cả khi các lập luận thuyết phục có khác những với lập luận trong diễn trình tiêm nhiễm. Thuyết này được phát biểu năm 1964 bởi nhà Tâm lý học Mĩ William James McGuire (1925-2007).

804. Insight: (sự) Thấu hiểu/ Bừng hiểu/ Tự thức

– Thấu hiểu: hiểu hay tri nhận rõ và sâu.

– Bừng hiểu: Diễn trình đột ngột thấy rõ nghĩa, ý nghĩa của một mẫu hay một giải pháp, đi kèm thời điểm euraka (eureka moment) hay trải nghiệm aha (aha experience) (như khi Archimedes tìm ra tỉ trọng của vật thể trong lúc tắm).

– Tự thức: Năng lực tự hiểu, đặc biệt là hiểu tính chất bất thường hay bệnh lí của các khía cạnh trong hành vi hay trải nghiệm tâm trí của một người do loạn tâm, thường được dùng để phân biệt bệnh thần kinh (trong đó năng lực tự thức có mặt một cách điển hình) với bệnh tâm thần (trong đó nó vắng mặt một cách điển hình). (trong phân tâm học) Sự hiểu một cách ý thức về các lí do vô thức của hành vi không thích nghi được tin là giúp trị bệnh.

805. Instinctual object: Đối tượng bản năng

(trong phân tâm học) Bất cứ gì thông qua đó một bản năng tìm cách đạt được cái đích bản năng của nó, bao gồm một người, một bộ phận của vật hay những cái đó trong hoang tưởng của con người. Nó không nhất thiết là một vật vật lí mà đúng hơn, là một đối tượng theo nghĩa đối tượng ham muốn. Sigmund Freud đã đưa vào sự phân biệt instinctual aim (đích bản năng), instinctual object (đối tượng bản năng)instintual source (nguồn bản năng) trong sách Three Essays on the Theory of Sexuality (Ba tiểu luận về Thuyết Tính dục (1905).

806. Instinctual source: Nguồn bản năng

(trong phân tâm học) Nguồn gốc bên trong cụ thể của một bản năng, có thể là địa điểm của nguồn gốc như erotogenic zone (vùng kích dục) bao gồm bộ phận sinh dục hay diễn trình sinh lí học được coi là xảy ra tại một địa điểm như thế và được trải nghiệm như sự kích thích.

807. Intelligence: Trí khôn

Năng lực thức nhận (nhận thức). Trong một hội thảo được công bố trên Journal of Educational Psychology (Tâm lý học Giáo dục) năm 1921, 14 nhà khoa học hàng đầu thế giới đã đưa ra những định nghĩa về trí khôn, trong đó có “năng lực thực hiện tư duy trừu tượng” (Lewis Madison Terman, 1877-1956), “sức mạnh trả lời đúng xét từ quan điểm của sự thật hay thực kiện” (Edward Lee Thorndike, 1874-1949), và “năng lực ức chế một sự hiệu chỉnh bản năng, năng lực tái xác định sự hiệu chỉnh bản năng bị ức chế dưới ánh sáng của việc thử và sai được trải nghiệm trong tưởng tượng, và năng lực muốn thực hiện sự hiệu chỉnh bản năng được sửa đổi trong hành vi rõ rệt nhằm có lợi cho cá nhân như một động vật xã hội” (Louis Leon Thurstone, 1887-1955). Kể từ đấy, một trong những định nghĩa có ảnh hưởng nhất là định nghĩa do nhà Tâm lý học Mĩ gốc Rumani David Wechsler (1896-1981) đưa ra năm 1944: “Kết hợp năng lực tổng thể của cá nhân hành động có mục đích, suy nghĩ hợp lí, và xử trí hữu hiệu với môi trường”. Tuy nhiên, đúng như một tam giác được xác định bằng ba góc và ba cạnh, bỏ qua nhiều thuộc tính lí thú và quan trọng nhưng không mang tính định nghĩa của nó, thói quen của từ điển gợi ý rằng có thể định nghĩa tốt nhất trí khôn một cách giản dị là năng lực thức nhận (nhận thức). Các nghiên cứu phân tích tác nhân bởi nhà Tâm lý học Mĩ Robert Jefffrey Sternberg (1949-) và những người khác đã gợi ý rằng các thành tố hàng đầu của trí khôn theo quan niệm của các chuyên gia và người không có chuyên môn là: trí khôn ngôn ngữ, trí khôn giải quyết vấn đề, và trí khôn thực hành; nhưng trong những năm 1990, một số người có thẩm quyền bắt đầu coi trí khôn cảm xúc như một hình thức khác của trí khôn. Chỉ số chuẩn của trí khôn là điểm IQ.

808. Intentional forgetting: (sự) Quên có chủ ý.

Cố ý xoá cái gì đó khỏi kí ức. Trong phân tâm học, quên đôi khi là hậu quả của sự dồn nén.

809. Interactionism: Thuyết tương tác

– Một cách tiếp cận với vấn đề tâm-thân, một hình thức nhị nguyên luận theo đó các sự kiện hay diễn trình trong các lĩnh vực tâm trí và thân thể đều ảnh hưởng hay tương tác với nhau.

– Một diễn giải về những đóng góp của nhân cách, theo đó hành vi của con người có phần phụ thuộc vào các tác nhân nhân cách bên trong, có phần vào các nhân tố tình huống bên ngoài, và có phần vào những tương tác giữa hai thứ.

810. Interaction process analysis: (sự) Phân tích diễn trình tương tác

Một kĩ thuật nghiên cứu sự tương tác trong các nhóm nhỏ. Các nhà quan sát ghi lại nguồn và mục tiêu của mỗi hành động thể hiện, xếp các hành động thành 12 loại hình như sau: thể hiện sự gắn bó, thể hiện sự thư giãn, tán thành, cho gợi ý, cho ý kiến, cho định hướng, yêu cầu định hướng, yêu cầu có ý kiến, không tán thành, thể hiện sự căng thẳng, và thể hiện sự đối địch. Việc phân tích những hình thức giao tiếp này bộc lộ, không kể những chuyện khác, hai kiểu lãnh đạo chính, nhà chuyên môn về nhiệm vụ và nhà chuyên môn về xã hội, và sự lãnh đạo trong các nhóm thường được chia sẻ giữa hai người hoàn thành được những vai trò ấy. Kĩ thuật được đưa vào bởi nhà Tâm lý học xã hội Mĩ Robert Freed Bales (1916-2004) và được mô tả trong sách Interaction Process Analysis: A Method for the Study of Small Groups (Phân tích diễn trình tương tác: Một phương pháp nghiên cứu các nhóm nhỏ) năm 1950.

811. Indeterminism: Thuyết bất tất định

– (trong Tâm lý học) Thuyết cho rằng con người có free will (ý chí tự do) và có năng lực hành động độc lập với những tình huống trước đó hay hiện tại, như trong việc quyết định lựa chọn.

– (trong Triết học) Quan điểm cho rằng các sự kiện không có những nguyên nhân cần và đủ.

812. Indifference point: Điểm vô cảm

Vùng trung gian giữa các cực thí nghiệm. Chẳng hạn, trong chiều kích khoái lạc-đau đớn, đó là độ kích thích gây ra một đáp ứng vô cảm hay trung tính.

813. Indirect associations: (sự) Liên kết gián tiếp

Một triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt, trong đó sự liên kết giữa các ý nghĩ không thể hiện rõ ràng, các lời nói của người bệnh dường như kì lạ và không mạch lạc đối với người khác.

814. Indirect method of therapy: Liệu pháp gián tiếp

Một liệu pháp dẫn dắt, điển hình là client-centered therapy (Liệu pháp lấy người bệnh làm trung tâm), trong đó nhà chữa trị không toan tính chỉ đạo sự giao tiếp của người bệnh hay đánh giá các nhận xét của người bệnh, mặc dù có thể nhắc lại hay nói lại những nhận xét ấy.

815. Indirect speech act: Hành động nói gián tiếp

Hành động nói mà mục đích không có vẻ rõ ràng xét từ hình thức đến nội dung câu nói, nhưng phải được suy ra. Chẳng hạn, quan sát biểu kiến Trong nhà lạnh quá! có thể rất có chủ ý yêu cầu ai đó đóng cửa sổ.

816. Individual education (IE): Giáo dục cá nhân

– Một kế hoạch nhận diện những nhu cầu giáo dục đặc biệt của một học sinh riêng biệt. Được tạo bởi các thầy giáo, các nhà quản trị nhà trường, cha mẹ học sinh và những chuyên gia khác để hình thành các cơ hội bổ túc hay độc nhất với toan tính đáp ứng nhu cầu của học sinh.

– Một tuyên bố chi tiết về các mục tiêu học tập gia tăng của một học sinh riêng biệt trong một thời kì. Kế hoạch tính đến trình độ năng lực, động cơ, hành vi, và những sự đa dạng trong tâm trạng, nghị lực, và sự chú ý. Cũng gọi là individualized educational planning (IEP: hoạch định giáo dục cá nhân hoá).

817. Individuation: (sự) Cá nhân hoá

– (trong Tâm lý học) Những diễn trình tâm lí và văn hoá xã hội nhờ đó một con người đạt tới vị thế của một con người cá nhân và thể hiện mình như thế trong thế giới.

– (trong Tâm lý học phân tích của Carl Jung) Sự phát triển từng nấc của một nhân cách thống nhất, tích hợp sẽ kết hợp ngày càng nhiều cái vô thức, cả cá nhân và tập thể, và giải quyết mọi xung đột đang tồn tại, như những xung đột giữa các xu hướng hướng nội và hướng ngoại. Cũng gọi là self-realization (tự thể hiện hết tiềm năng).

– Một kì phát triển xảy ra giữa tháng thứ 18 và tháng thứ 36, trong đó đứa trẻ trở nên bớt phụ thuộc vào mẹ và bắt đầu thoả mãn những mong muốn của riêng mình và tự lo cho mình. Thuật ngữ được phát biểu bởi nhà tâm thần học Mĩ gốc Hung Margaret Schonberger Mahler (1897-1985).

818. Industrial psychopath: Người rối loạn nhân cách kĩ nghệ

Cá nhân trong một khung cảnh làm việc thể hiện một mẫu hành vi được coi là điển hình của antisocial personality disorder (Rối loạn nhân cách phản xã hội). Những cá nhân như thế hành động mà không quan tâm đến người khác và sử dụng thủ đoạn thao túng để quản trị một cách hữu hiệu cả những người ủng hộ lẫn những người chê bai, thường dẫn đến kết quả là thăng tiến trong nghề nghiệp. Kiểu cá nhân này dễ thành công nhất trong các tổ chức trải qua những thay đổi nhanh chóng.

818. Industry versus inferiority: (sự) Siêng năng chống lại tự ti

Giai đoạn thứ tư trong tám giai đoạn phát triển của Erikson, tương ứng với latency stage (giai đoạn ẩn tàng) của Freud từ 6 đến 11 tuổi, trong đó đứa trẻ học cách làm ra sản phẩm và chấp nhận sự đánh giá những cố gắng của mình. Nếu trẻ không được khuyến khích làm việc siêng năng, nguy cơ sẽ là trẻ cảm thấy tự ti hay vô năng.

819. Infantile sexuality: Tính dục ấu thơ

(trong thuyết phân tâm) Khái niệm psychic energy of libido (năng lượng tâm lí của tính dục năng) tập trung ở những cơ quan trong suốt tuổi thơ tạo ra hứng khoái tính dục. Điều ấy biểu hiện ở việc mút vú mẹ trong oral stage (giai đoạn miệng) của sự phát triển, bài tiết trong anal stage (giai đoạn hậu môn), và tự kích thích trong genital stage (giai đoạn sinh thực khí) ban đầu. Thuật ngữ và khái niệm, lần đầu được phát biểu bởi Sigmund Freud, tỏ ra hết sức gây tranh cãi ngay từ lúc đầu, và ăn nhập hơn với suy nghĩ sau đó muốn nhấn mạnh bản chất nhục cảm của việc bú mẹ, bài tiết, và khám phá cơ thể trong tuổi ấu thơ, và vai trò của những cảm giác khoái lạc có được như thế trong nguồn gốc và sự phát triển các cảm giác tính dục.

820. Inferiority complex: Phức cảm tự ti

Một cảm thức căn bản về sự bất cập và bất an, xuất phát từ khiếm khuyết thực hay tưởng tưởng về thể chất hay tâm lí của bản thân, có thể dẫn đến biểu hiện hành vi đi từ sự “thu mình” dụt dè bất động cho đến bù trừ thái quá bằng cạnh tranh cực đoan và gây hấn.

821. Interdependence theory: Thuyết tương thuộc

Một lí thuyết tìm cách phân tích những nhân tố xác định nguyên nhân của hành vi xã hội nhị nguyên bằng cách cung cấp một sự phân loại có hệ thống một số thuộc tính then chốt của các tình huống liên cá nhân hay tương tác và các đáp ứng cá nhân đối với những tình huống ấy. Được đề xướng lần đầu tiên bởi các nhà Tâm lý học Mĩ Harold Harding Kelley (1921-2003) và John Walter Thibault (1917-86) trong sách The Social Psychology of Groups (Tâm lí xã hội các nhóm) (1959) và được phát triển trong Interpersonal Relations: A Theory of Interdependence (Các quan hệ liên cá nhân: Một lí thuyết về tương thuộc) (1978) và Kelley mở rộng thêm trong một bài viết trên tờ Journal of Personality and Social Psychology (Tập san Nhân cách và Tâm lý học Xã hội) vào năm 1984. Theo thuyết này, bản chất của sự tương thuộc giữa hai cá nhân phụ thuộc vào cách mỗi người có thể ảnh hưởng đến điều xảy ra cho người kia trong diễn trình tương tác xã hội, điều ấy được gọi là “outcome interdependence” (sự tương thuộc về thành quả). Viết tắt: IT.

822. Intermittent explosive disorder: Rối loạn bùng nổ từng cơn

Một rối loạn ứng xử bùng nổ về kiểm soát xung động, có đặc điểm là những cơn bùng nổ gây hấn lặp lại, vượt quá mức tỉ lệ với các sự cố khiêu khích, kết quả là những cuộc tấn công nghiêm trọng hay phá huỷ tài sản.

823. Internalization: (sự) Nội tâm hoá

(trong Phân tâm học) Sự hấp thụ một mối quan hệ hay một đối tượng bản năng vào bộ máy tâm trí, như khi một mối quan hệ của đứa trẻ với người cha độc đoán được nội tâm hoá thành mối quan hệ giữa một cái tôi và một cái siêu tôi nghiêm ngặt. Theo phân tích Klein, thuật ngữ được dùng rộng hơn, như một tên khác, đơn giản, cho introjection: huyễn tưởng hấp thụ một đối tượng hay một phần đối tượng.

824. Internet addiction syndrome: Hội chứng nghiện internet

Một điều kiện tương tự rối loạn về kiểm soát xung động, lần đầu được nhận diện ở Mĩ vào năm 1994, thoạt tiên là một lời đùa cợt, có đặc trưng là việc lướt mạng internet cực độ hay mang tính bệnh lí, chỉ dấu là những dấu hiệu và triệu chứng quá bận bịu với internet, những giấc mơ và huyễn tưởng lặp lại về internet, nói dối gia đình hay người chữa trị để che giấu thời lượng chơi internet, lặp lại toan tính ngưng hoặc giảm thời gian chơi internet nhưng luôn thất bại, và trở nên thao thức hay bứt rứt khi làm thế, sử dụng internet như một lối thoát khỏi lo âu bất hạnh, làm tổn hại một việc làm, một quan hệ, hay một cơ hội giáo dục vì mất quá nhiều thì giờ chơi internet.

825. Interoception: Nội cảm

Bất kì hình thức giác cảm (cảm giác) nào nổi lên từ kích thích của các cơ quan nội cảm và chuyển thông tin về tình trạng các nội tạng và mô, huyết áp, huyết tương và độ muối, đường trong máu.

826. Intropectionism: Thuyết nội quan

Thuyết cho rằng kĩ thuật nghiên cứu nền tảng của Tâm lý học phải là nội quan.

827. Introversion: (sự) hướng nội

Mối quan tâm áp đảo với ý tưởng và cảm nhận của chính mình hơn là thế giới bên ngoài hay tương tác xã hội, có đặc trưng là những nét nổi bật như dè dặt, thụ động, im lặng. Là đối cực của extraversion (hướng ngoại), một trong Năm Nhân tố lớn của nhân cách. Thuật ngữ xuất hiện từ giữa thế kỉ 17, theo nghĩa thuần tuý mô tả việc quay về suy tưởng nội tâm trong sự chiêm ngắm tâm linh, và đến năm 1910 được đưa vào theo nghĩa Tâm lý học hiện đại bởi Carl Gustav Jung (1875-1961).

828. Intuitive type: Kiểu trực giác

Một trong các kiểu nhân cách phụ trong Tâm lý học phân tích.

829. Inverted-U hypothesis: Giả thuyết đảo ngược hình chữ U

Một mối tương liên giữa động lực hoặc hứng khởi và hiệu quả thực hiện: hiệu quả thực hiện tồi nhất khi động lực hay hứng khởi thật thấp hay thật cao. Vận hành này được nói đến rõ nhất trong Luật Yerkes-Dodson. Độ mạnh của cảm xúc (động lực) tăng dần từ điểm không tới một điểm tối ưu khiến phẩm chất của việc thực hiện tăng lên; nhưng nếu tăng thêm độ mạnh sau điểm tối ưu, sẽ dẫn đến sự suy giảm và hỗn loạn hiệu quả thực hiện, làm thành sự đảo ngược theo hình chữ U. Tuy nhiên, sự tương liên được coi là không thật xác đáng. Đúng hơn, sự đảo ngược hình chữ U là đại diện cho cả loạt đường cong trong đó đỉnh điểm hiệu quả thực hiện xảy ra ở những trình độ hứng khởi khác nhau.

830. Investigative psychology: Tâm lý học điều tra

Một ngành của Tâm lý học tội phạm trong đó các nguyên lí Tâm lý học được áp dụng vào việc điều tra hình sự và tìm hiểu tội phạm, đặc biệt là những kẻ giết người hàng loạt và hiếp dâm. Mẫu hành vi của kẻ giết người hàng loạt đôi khi giúp ích cho nhà Tâm lý học điều tra trong việc định dạng tội ác.

Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 72) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024