956. Local enhancement: (sự) Tăng tiến cục bộ
Một hình thức học mang tính xã hội (social learning) trong đó một cá nhân quan sát người khác thực hiện hành vi đối với một đối tượng trong một địa điểm cụ thể. Người quan sát có thể tương tác với cùng đối tượng hay di chuyển tới địa điểm ấy và học một số hành vi chuyên biệt. Chẳng hạn, nhiều động vật có thể bị thu hút tới một địa điểm, ở đó do cơ may ở cùng nơi cùng lúc (chứ không thông qua tương tác xã hội giữa chúng), cá thể có thể có được nguồn tài nguyên một cách hữu hiệu hơn.
957. Locked’s theory of goal setting: Thuyết Locke về việc đặt định mục tiêu
Một lí thuyết cho rằng (a) những mục tiêu chuyên biệt sẽ chỉ huy hoạt động hữu hiệu hơn những mục tiêu mơ hồ hoặc tổng quát; (b) những mục tiêu khó khăn hoặc thách thức sinh ra việc thực hiện tốt hơn những mục tiêu vừa phải hoặc dễ; (c) những mục tiêu ngắn hạn có thể dùng để đạt những mục tiêu dài hạn. Ít nhất có 4 cơ chế giải thích vì sao việc đặt định mục tiêu làm cho việc thực hiện được cải thiện: (a) nó tập trung và chỉ huy hoạt động; (b) nó điều chỉnh việc sử dụng năng lượng; (c) nó làm tăng sự kiên trì vì sự cố gắng được liên tục cho đến khi mục tiêu hoặc mục tiêu nhỏ đạt được; (d) nó có thể cổ vũ sự phát triển những chiến lược mới để cải thiện việc thực hiện. Việc đặt định mục tiêu chỉ tác dụng nếu như có phản hồi kịp thời cho thấy việc thực hiện hay tiến bộ trong quan hệ với mục tiêu. Các mục tiêu phải được chấp nhận là hữu hiệu, và việc đạt đến mục tiêu được tạo thuận lợi bằng một kế hoạch hành động hay chiến lược. Cạnh tranh có thể được coi như một hình thức đặt định mục tiêu. [Edwin A. Locke (1938- ) là nhà Tâm lý học kĩ nghệ Mĩ].
959. Locus of control: Quĩ đạo kiểm soát
Một khái niệm được dùng để phân loại các khuynh hướng vận động và tri nhận cơ bản của con người về mức độ kiểm soát của họ đối với các điều kiện sống của mình. Người có quĩ đạo kiểm soát ngoại tại (external locus of control) có khuynh hướng cư xử đáp lại hoàn cảnh bên ngoài và tri nhận thành quả của cuộc sống như có được từ các nhân tố ngoài sự kiểm soát của bản thân. Người có quĩ đạo kiểm soát nội tại (internal locus of control) có khuynh hướng cư xử đáp lại các trạng thái bên trong và tri nhận thành quả của cuộc sống như có được từ việc vận dụng các năng lực của chính mình. [được đưa vào Tâm lý học bởi nhà Tâm lý học Mĩ Julian Rotter (1916- )].
960. Logical-mathematical intelligence: Trí khôn logic-toán
[trong Thuyết Trí khôn nhiều dạng] – Multiple-intelligences): Tập hợp các kĩ năng được dùng để giải quyết các vấn đề đòi hỏi tư duy logic hay toán học hoặc cả hai. Các năng lực này được coi là tương đối độc lập với các năng lực dính líu đến những dạng trí khôn khác.
961. Logical positivism: Thuyết thực chứng logic
Một quan điểm triết học gắn kết với nguyên lí xác chứng (verification) vốn chủ trương rằng nghĩa và sự thật của những tuyên ngôn không mang tính logic tự động đều phụ thuộc vào quan sát trải nghiệm. Đầu TK 20, các nhà thực chứng luận của nhóm Vienna (Vienna Circle) tìm cách thiết định sự hợp nhất thiết cốt giữa logic, triết học và khoa học và phân biệt những bộ môn này với siêu hình học, đạo đức học và tôn giáo vốn bị bác bỏ vì tính chất tư biện. Quan điểm về khoa học của các nhà thực chứng luận có ảnh hưởng trong thời kì Tâm lý học nổi lên như một khoa học và đã có ảnh hưởng đáng kể đối với bộ môn này. Điều này được nói rõ nhất trong thuyết hành vi (behaviorism) và sự cam kết của Tâm lý học với các phương pháp khoa học quan nghiệm. Thuyết thực chứng logic đã mờ nhạt vào giữa thế kỉ.
962. Logogen
Một đơn vị kí ức mang tính lí thuyết tương ứng với một từ, một chữ cái hay một con số, khi được kích thích sẽ đưa đến một thành quả (là sự nhớ lại, nhận ra lại hay tái tạo) của đơn vị. Chẳng hạn, logogen của từ cái bàn được kích hoạt khi nghe thấy hoặc nhìn thấy từ đó hay những từ liên kết với nó. [được đề xướng bởi nhà Tâm lý học Anh John Morton (1933- )].
963. Logotherapy: Liệu pháp lời nói
Một cách tiếp cận trong liệu pháp tâm lí, tập trung vào “tình cảnh khốn quẫn của con người” (human predicament), giúp người bệnh vượt qua khủng hoảng về nghĩa. Diễn trình trị liệu chủ ở việc xem xét 3 kiểu giá trị: (a) sáng tạo (làm việc, thành tựu); (b) trải nghiệm (nghệ thuật, khoa học, triết học, hiểu biết, yêu thương); (c) thái độ (đối mặt với sự đau đớn). Mỗi người bệnh được khuyến khích đi đến giải pháp của riêng mình, kết hợp trách nhiệm xã hội với các quan hệ xây dựng. Cũng gọi là liệu pháp lấy nghĩa làm trung tâm (meaning-centered therapy). [được phát triển vào thập niên 1950 và 1960 bởi nhà tâm thần học người Áo Viktor E. Frankl (1905-1997)].
964. Lokian personality: Nhân cách Loki
Mẫu nhân cách có đặc trưng là ham muốn gây đau buồn cho người khác, hành vi thao túng và lừa bịp. Xuất phát từ tên thần quậy phá Loki của vùng Scandinavi.
965. London syndrome: Hội chứng London
Sự kháng cự và khước từ rõ rệt và nhất quán của người bị bắt cóc đối với những gì mà kẻ bắt cóc trông đợi họ làm. Được nhận diện vào năm 1981, sau sự cố bắt cóc ở London. Có thể gây ra sự tổn thương nghiêm trọng và cái chết của người kháng cự.
966. Longititudinal design: Thiết kế theo chiều dọc
Nghiên cứu về một biến tố hay nhóm biến tố trong những trường hợp hay những người tham dự không thay đổi, qua một thời kì, đôi khi nhiều năm. Một ví dụ là nghiên cứu so sánh cùng một nhóm trẻ em trong một trường học ở nội đô và một trường học ngoại ô qua nhiều năm, nhằm ghi lại sự phát triển thức nhận theo chiều sâu của các em. So sánh với cross-sectional design (thiết kế xuyên khu vực).
967. Longititudinal stability: (sự) Ổn định theo chiều dọc
Mức độ nhất quán về sở hữu và biểu hiện đặc trưng tâm lí của một cá nhân qua một thời kì.
968. Looking-glass self: Cái bản ngã gương soi
Một khái niệm về bản ngã hình thành do học cách người khác tri nhận và đánh giá mình. Thuật ngữ gợi ý rằng một bản ngã phản ánh những ấn tượng, phản ứng và ý kiến của người khác. Xem reflected appraisals (những sự đánh giá được phản ánh), symbolic interactionism (phép tương tác tượng trưng). [Được đưa vào bởi nhà tư tưởng xã hội Mĩ Charles Horton Cooley (1864-1929)].
969. Loose culture: Văn hoá lỏng lẻo
Một nhóm xã hội pha tạp mà các thành viên khác nhau có xu hướng độc đáo về giá trị, chấp nhận nguy cơ và gắn kết uyển chuyển với các tiêu chuẩn tập thể của nhóm hay văn hoá. So sánh với tigh culture (văn hoá chặt chẽ). [thuật ngữ do nhà Tâm lý học Mĩ Harry C. Triandis (1926- ) tạo ra].
970. Loosening of associations: (sự) Liên kết lỏng lẻo
Một rối loạn tâm trí trong đó các diễn trình nghĩ và nói không kết nối nhau và bị phân mảnh, và cá nhân nhảy từ ý nghĩ này qua ý nghĩ khác không liên quan hoặc liên quan gián tiếp thay vì đi theo những tuyến liên kết quen thuộc. Tương đương về bản chất với derailment (sự trật khỏi tuyến suy nghĩ).
971. Loser effect: Hiệu ứng kẻ thua
Sự giảm bớt khả năng một cá nhân sẽ đua tranh trong tương lai sau những trải nghiệm thua cuộc lặp lại. Thường có những thay đổi về sinh lí như gia tăng glucocorticoids (cortisone, cortisol) và giảm testosterone đi cùng hiệu ứng kẻ thua. So sánh với winner effect (hiệu ứng kẻ thắng).
972. Lost letter procedure: Qui trình lá thư bị mất
Một phép đo thái độ gián tiếp được sử dụng ở một trình độ nhóm kết tập. Hai bộ phong bì (bao thư) có dán tem được tạo ra, một bộ viết cho một nhóm dường như có lập trường thái độ cụ thể đối với một vấn đề nhắm tới, bộ kia viết cho một nhóm dường như có lập trường đối lập. Hai phiên bản được gửi với số lượng ngang nhau tới một cộng đồng. Qui trình dựa trên logic là một người nhận được lá thư ngẫu nhiên gửi cho mình sẽ dễ có động thái gửi chuyển tiếp lá thư vào hòm thư nếu nó viết cho nhóm có cùng lập trường với mình. Số phần trăm người trong cộng đồng ủng hộ hai lập trường sẽ được suy ra từ con số phong bì được gửi chuyển tiếp. Cũng gọi là lost letter technique (kĩ thuật lá thư bị mất). [được phát triển đầu tiên bởi Stanley Milgram].
973. Lovemap: Bản đồ tình ái
Hình ảnh tâm trí của một người về một người tình lí tưởng, quan hệ yêu đương lí tưởng và hoạt động tính dục lí tưởng đối với đối tác, được biểu hiện trong phóng (huyễn) tưởng và hành vi tính dục. Nó kết hợp các vấn đề về định hướng tính dục và cũng về các hành vi tà dâm được gọi là altered lovemaps. [được phát triển bởi nhà Tâm lý học New Zealand John Money (1921- )].
974. Love needs: (các) Nhu cầu yêu thương
[trong lí thuyết nhân văn của Abraham Maslow] Trình độ thứ 3 của thứ bậc nhu cầu, có đặc trưng là phấn đấu cho sự đặt quan hệ thân thuộc và sự chấp nhận. Cũng gọi là belongingness and love needs (nhu cầu thuộc về và yêu thương).
975. Love scale: Thước đo tình yêu
Một phép đo sức cảm nhận tình yêu của một người. Vì tình yêu là một trạng thái phức hợp diễn ra dưới những hình thức khác nhau, nên nhiều thước đo đa dạng không luôn luôn nhận ra những thành tố giống nhau trong cảm xúc đa diện này. Ví dụ, thước đo passionate love (tình yêu đam mê phát triển bởi nhà Tâm lý học xã hội Mĩ Elaine Hatfield (1937- ) tập trung vào những mục liên quan đến ham muốn tính dục cũng như những mục có hướng thức nhận (nhận thức), phản ánh sự bận tâm với đối tượng tình yêu và sự lí tưởng hoá người yêu; trong khi thước đo romantic love (tình yêu lãng mạn) của nhà Tâm lý học Mĩ Zick Rubin (1944- ) dính líu đến các yếu tố vừa của tình yêu đam mê vừa của companionate love (tình yêu hoà hợp) và bao gồm những mục về sự tự nguyện tin cậy và ham muốn ở bên bạn tình.
976. Lucid dream: Giấc mơ tỉnh táo
Một giấc mơ trong đó người ngủ mơ biết rõ là mình đang mơ và có thể ảnh hưởng đến bước tiến của câu chuyện trong mơ. Cũng có khả năng chủ ý báo hiệu những nét nổi bật của giấc mơ được định trước.
977. Lust murder: (sự) Sát nhân dâm dục
Một hình thức cực độ của bạo dâm, trong đó cá nhân trải nghiệm cơn hứng tình từ việc sát hại bạn tình trong lúc làm tình, thường bao gồm việc dàn dựng tinh vi và chặt xẻ cơ thể nạn nhân. Cũng gọi là erotophonophilia.
Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 72) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024