898. Labeling theory: Thuyết dán nhãn
Giả thuyết xã hội học mô tả một cá nhân dựa theo những đặc trưng hành vi cụ thể có thể có hiệu ứng đáng kể đối với hành vi của người ấy, như một hình thức self-fulfilling prophecy (lời tiên đoán tự ứng nghiệm). Chẳng hạn, mô tả một cá nhân (đặc biệt là người vị thành niên) là kẻ lệch lạc rồi cư xử với người ấy như một người lệch lạc có thể dẫn đến rối loạn tâm trí hay phạm tội. cũng gọi là social-reaction theory (thuyết phản ứng xã hội).
899. Laissez-faire leader: Thủ lĩnh buông thả
Kiểu thủ lĩnh ít chỉ dẫn cho các hoạt động của nhóm, chỉ tương tác một cách tối thiểu với các thành viên nhóm, và chỉ cung cấp dữ kiện đầu vào khi được yêu cầu trực tiếp. Các nghiên cứu cho thấy rằng những nhóm có thủ lĩnh buông thả thể hiện kết quả hoạt động kém, sự gắn kết kém và nhiều ác cảm hơn so với những nhóm có các thủ lĩnh dân chủ hay thủ lĩnh độc đoán. Xác định bởi Kurt Lewin và các đồng nghiệp trong những nghiên cứu thực nghiệm về các phong cách lãnh đạo.
900. Language-experience approach to reading: Phương pháp đọc dựa vào kinh nghiệm ngôn ngữ
Một phương pháp dạy đọc và các kĩ năng ngôn ngữ dựa trên kinh nghiệm của trẻ, sử dụng những học liệu có thể do trẻ gợi ý cho giáo viên.
901. Language transfer: (sự) Chuyển dịch ngôn ngữ
[trong việc thu nhận ngôn ngữ thứ hai] Xu hướng chuyển dịch phát âm, cú pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ mẹ đẻ vào việc học ngôn ngữ thứ hai. Chuyển dịch tiêu cực (Negative transfer) hay Nhiễu/ Giao thoa (Interference) xảy ra khi những khác biệt giữa hai cấu trúc ngôn ngữ dẫn đến các sai lầm có hệ thống trong việc học ngôn ngữ thứ hai hay là fossilization (hoá thạch). Chuyển dịch tích cực (Positive transfer) xảy ra khi các địa hạt tương tự giữa hai ngôn ngữ khiến việc học được dễ dàng.
902. Latency stage: Giai đoạn ẩn tàng
[trong Thuyết Phân tâm] Giai đoạn Phát triển tâm lí tính dục (Psychosexual Development) trong đó hứng thú tính dục lộ liễu được thăng hoa và sự chú ý của đứa trẻ tập trung vào các kĩ năng và các hoạt động chúng bạn (đồng đẳng) cùng giới. Giai đoạn này được cho là kéo dài từ lúc giải quyết được phức cảm Oedipus (khoảng 6 tuổi) cho đến bắt đầu thời dậy thì (11-12 tuổi). Cũng gọi là latency; latency period phase; latent stage.
903. Latent trait theory: Thuyết đặc điểm ẩn tàng
Một thuyết tâm lí lượng học (psychometric) cho rằng các đặc điểm quan sát được như thể trí khôn, là phản ánh của những đặc điểm cơ bản hơn (đặc điểm ẩn tàng). Nhiều hình mẫu về lượng tính (item response theory: thuyết trả lời các khoản mục; factor analysis: phân tích nhân tố) đã được phát triển để cho phép nhận diện và đánh giá những đặc điểm ẩn tàng từ những quan sát biểu kiến.
904. Lateral specialization: (sự) Chuyên biệt hoá nhất biên (một bên)
Sự phát triển những năng lực chuyên biệt ở bán cầu não trái hay phải. Ví dụ như xu hướng nói năng, viết, tính toán, và ngôn ngữ được kiểm soát nhiều hơn bởi bán cầu não trái, và sự lập ý phi ngôn ngữ và kiến trúc không gian được kiểm soát nhiều hơn bởi bán cầu não phải.
905. Lateral thinking: Tư duy biên
Tư duy sáng tạo, chủ ý toan tính xem xét lại những nhận định cơ sở, để thay đổi cách nhìn và hướng đi, hay để cho một cách tiếp cận mới đối với việc giải quyết vấn đề. Định nghĩa của nhà Tâm lý học người Anh Edward de Bono (1933-).
906. Later life adjustment: (sự) Hiệu chỉnh cuối đời
Sự thích nghi với căng thẳng gây ra bởi các sự kiện liên kết với cuộc sống của người cao tuổi, bao gồm bệnh mạn tính, mất mát gia đình, và những thay đổi về lối sống.
907. Latitude of acceptance: Phạm vi chấp nhận
Phạm vi của những lập trường về thái độ bao gồm lập trường mà một người ưa thích và phạm vi của những lập trường mà người ấy coi là chấp nhận được. Thoạt tiên nó được đề xuất như một phần của *thuyết phán xét xã hội (social judgment theory).*Khác với: latitude of noncommitment (phạm vi không cam kết): phạm vi của những lập trường về thái độ mà một người coi là không thể chấp nhận cũng không thể bác bỏ; latitude of rejection phạm vi bác bỏ).
908. Law-order-order orientation: Định hướng luật lệ và trật tự
[trong Thuyết về Phát triển đạo lí của Kohlberg] Giai đoạn hai trong hai giai đoạn trong trình độ qui ước (conventional level), trong đó con người có những quyết định về mặt đạo lí dựa trên việc duy trì các luật lệ của xã hội. Cũng gọi là social-order-maintaining morality (đạo lí duy trì trật tự xã hội).
909. Law of continuity: Luật liên tiếp
Một nguyên lí giác tri (tri giác) được nhà Tâm lý học người Đức Max Wertheimer nhận diện vào năm 1923 và được liên kết với Gestalt psychology (Tâm lý học toàn hình). Nó cho rằng khi các đường thẳng gặp nhau trong một hình, diễn giải được ưa chuộng là hai đường thẳng liên tiếp. Chẳng hạn, một hình chữ thập sẽ được diễn giải là một đường đứng và một đường ngang hơn là hai góc vuông gặp nhau ở các đỉnh. Cũng gọi là principle of continuity (nguyên lí liên tiếp).
910. Law of contrast: Luật tương phản
Một nguyên lí liên tưởng nói rằng suy nghĩ về bất kì điều gì hay tính chất gì đều có xu hướng ghi nhớ điều ngược lại. Trong học thuyết liên tưởng sau này, nguyên lí này được coi là một trường hợp đặc biệt của luật liền kề (law of contiguity).
911. Law of effect: Luật hiệu ứng
Nói rộng ra, là nguyên lí nói rằng các hậu quả của hành vi sẽ tác động để cải sửa khả năng xảy ra hành vi ấy trong tương lai. Thoạt tiên được phát biểu bởi Edward L. Thorndike, luật hiệu ứng nói rằng những đáp ứng đưa đến trạng thái thoả mãn sẽ được tăng cường và những đáp ứng đưa đến trạng thái bất mãn sẽ bị suy yếu. Những ý tưởng này đã được diễn đạt thành các ý niệm đương đại về thưởng phạt. Về sau Thorndike xem xét lại luật này để chỉ nói đến hiệu ứng củng cố tăng cường đáp ứng; phiên bản gốc của luật này đã được gọi là strong law of effect (luật hiệu ứng mạnh) và phiên bản sửa đổi được gọi là weak law of effect (luật hiệu ứng yếu).
912. Law of frequency: Luật tần số
Nguyên lí nói rằng sức học gia tăng với số lượng thực hành. Cũng gọi là law of repetition (luật lặp lại); law of use (luật sử dụng).
913. Law of parsimony: Luật tiết kiệm
Nguyên lí cho rằng cách giải thích đơn giản nhất về một sự kiện hay quan sát là cách giải thích được ưa thích. Sự đơn giản được hiểu theo nhiều cách, bao gồm đòi hỏi rằng sự giải thích nên (a) đưa ra số lượng ít nhất những nhận định không có chỗ dựa; (b) tuyên bố sự tồn tại của số lượng thực thể ít nhất; (c) viện dẫn số lượng ít nhất những ý tưởng không quan sát được. Cũng gọi là economy principle; principle of economy (nguyên lí tiết kiệm)
914. Law of participation: Luật tham gia
Nguyên lí được dùng để nêu đặc điểm và giải thích những kiểu tư duy không thuận với nguyên lí mâu thuẫn (contradiction principle) và những luật tư duy khác là cơ sở của logic Tây phương. Kiểu tư duy này không có khó khăn trong việc chấp nhận rằng một điều có thể là một điều gì đó khác không tương thích về mặt logic trong một thời gian khác, địa điểm khác, hay chiều kích khác, và do đó tự thân thích ứng với huyền thuật và óc thần bí. Tư duy như thế mang tính chủ toàn (holistic) hơn là chủ biệt (differenciated) và thường được coi như điển hình của những xã hội “nguyên sơ”. Được triết gia và nhà dân tộc học Pháp Lucien Levy-Bruhl (1857-1939) đưa vào.
915. Law of prior entry: Luật ưu tiên nhập
Nguyên lí nói rằng khi hai kích thích được đưa ra đồng thời, thì kích thích được chú ý sẽ được giác tri (tri giác) như xảy ra trước kích thích không được chú ý.
916. Law of proximity: Luật lân cận
Một nguyên lí của Tâm lý học Gestalt, nói rằng các vật hay các kích thích ở gần nhau, có quan hệ với nhau, sẽ được giác tri (tri giác) như một đơn vị. Chẳng hạn, một loạt nốt nhạc được tri giác như một giai điệu, một loạt dấu chấm không có liên kết với nhau trên một tấm bảng được tri giác như một con số hoặc chữ cái. Cũng gọi là principle of proximity (nguyên lí lân cận).
917. Law of similarity: Luật tương tự
– Một nguyên lí giác tri (tri giác) được nhận diện vào năm 1923 bởi nhà Tâm lý học người Đức Max Wertheimer và liên kết với Tâm lý học Gestalt; nói rằng người tri giác sẽ có xu hướng tổ chức các vật có những tính chất tương tự vào một nhóm tri giác và diễn giải chúng như một tổng thể. Cũng gọi là principle of similarity (nguyên lí tương tự).
– Một nguyên lí nói rằng những thứ giống nhau sinh ra những thứ giống nhau, hay một hậu quả giống như nguyên nhân của nó.
918. Law of sufficent reason: Luật túc lí
Đề xuất của triết gia người Đức Gottfried Wilhelm Leibniz (1646-1716) rằng nếu cái gì đó tồn tại, thì nhất thiết là có đủ lí do cho sự tồn tại của nó. Nguyên lí này hàm nghĩa một cơ sở hợp lí vốn có cho vũ trụ. Nó được bổ túc bằng law of insufficent reason (luật bất túc lí) nói rằng nếu không đủ lí do cho sự tồn tại của cái gì đó, thì nó sẽ không tồn tại.
919. Laws of learning: (các) Luật về sự học
Các nguyên lí nói lên những điều kiện cho sự học xảy ra. Các luật quan trọng nhất là luật Liền kề (law of contiguity), luật hiệu ứng law of effect), luật tần số (law of frequency), luật hiệu ứng đầu tiên (law of primacy effect) và luật hiệu ứng gần đây (law of recency effect). Những nguyên lí và thực hành khác nâng cao hiệu quả học bao gồm giáo dục tăng tiến (progressive education), thực hành phân tán (distributed practice), học có ý nghĩa (meaningful learning), học vẹt (rote learning), học thêm nữa (overlearning), học liên kết (associative learning).
920. Laws of thought: (các) Luật tư duy
Một số nguyên lí logic, như nguyên lí đồng nhất (identity principle) và nguyên lí mâu thuẫn (contradiction principle), được coi như thiết yếu đối với tư duy lí tính, xác định chính cái ý tưởng về tư duy logic.
921. Leadership style: Phong cách lãnh đạo
– Các xu hướng và phương pháp ứng xử ổn định của một thủ lãnh khi chỉ đạo một nhóm. Một số phong cách phổ biến là chuyên quyền, quan liêu, mê hoặc (charismatic), dân chủ, buông thả (laissez-faire).
– Trong các lí thuyết về phong cách và sự tuỳ cơ (contingency) của lãnh đạo, là mức độ mà phương pháp của người thủ lãnh có đặc điểm rõ ràng là task-motivated (vì nhiệm vụ) hay relationship-motivated (vì quan hệ). Phần lớn những lí thuyết như thế cho rằng các thủ lãnh hữu hiệu cân bằng hai định hướng căn bản này trong nhóm mà họ lãnh đạo.
922. Leadership theories: (các) Lí thuyết lãnh đạo
Các lí thuyết nhằm giải thích tính hữu hiệu hay không hữu hiệu của các thủ lãnh. Các kiểu lí thuyết chính bao gồm các lí thuyết về nét đặc điểm của lãnh đạo (trait theories of leadership), tập trung vào các đặc trưng như năng lực giám sát, trí khôn, lòng tự tin, và tính quyết đoán; các lí thuyết về ứng xử/ phong cách của lãnh đạo (behavioral / style theories of leadership) tập trung vào những hoạt động dựa trên nhiệm vụ và dựa trên quan hệ; Các lí thuyết về sự tuỳ cơ của lãnh đạo (contingency theories of leadership) toan tính mô tả kiểu lãnh đạo hữu hiệu nhất trong những tình huống khác nhau; và các lí thuyết thức nhận (nhận thức) về lãnh đạo (cognitive theories of leadership) như leader-categogization theory (thuyết phân loại lãnh đạo) hay attribution theory of leadership (thuyết qui kết về lãnh đạo) mô tả cách mà những tri nhận của thuộc cấp về thủ lãnh của họ có ảnh hưởng đến hiệu quả lãnh đạo.
923. Learned helplessness: (sự) Bất lực do tập thành
Thiếu động lực và không thể hành động sau khi bị đối đầu với những sự kiện hay kích thích khó chịu mà cá nhân không kiểm soát được (như tiếng ồn, đám đông…). Các cá nhân bị tập để thấy rằng mình không thể kiểm soát môi trường xung quanh, và điều này dẫn họ đến chỗ thất bại trong việc sử dụng bất kì phương án kiểm soát nào có thể có. Theo thuyết bất lực (helplessness theory), sự bất lực do tập thành là một nhân tố gây nguy cơ trầm cảm. [Được mô tả lần đầu vào giữa thập niên 1960 bởi nhà Tâm lý học Mĩ Martin E.P. Seligman (1942-)].
924. Learning disabilities (LD): (các dạng) Thiểu năng học
Bất kì điều kiện nào được đánh dấu bằng những khiếm khuyết quan trọng về các kĩ năng học vấn, bao gồm các rối loạn về học (learning disorders) và các khó khăn trong việc học do thiểu năng về tri nhận, tổn thương não, hay loạn chức năng não tối thiểu (minimal brain dysfunction). Khái niệm này không kể đến những vấn đề về học là kết quả từ suy yếu về thị giác, thính giác, chậm trí, rối loạn cảm xúc, hay bất lợi về môi trường, văn hoá hay kinh tế.
925. Learning disorder: Rối loạn về học
Bất kì rối loạn nào có đặc trưng là thành tích của một người thấp xa dưới mức trông đợi đối với trí khôn, tuổi và cấp học của người ấy, được đo bởi các đo nghiệm chuẩn hoá về đọc, toán học và viết. Trong thực hành, sai lệch ở mức một hay hai độ lệch chuẩn so với điểm chuẩn về trí khôn tổng quát trong đo nghiệm thành tích (achievement test) là bình thường, nhưng sẽ được coi là rối loạn về học nếu có đặc điểm nổi bật khác như rối loạn về xử lí thức nhận (nhận thức) (cognitive processing disorder), rối loạn tâm trí liên quan (relevant mental disorder), một thiểu năng về mặt y tế nổi bật…
926. Learning model: Hình mẫu học
Một cách tiếp cận việc nghiên cứu sự phát triển và hành vi của con người, nhấn mạnh ảnh hưởng của các điều kiện môi trường đối với vận hành thể chất, thức nhận (nhận thức), liên cá nhân và cảm xúc của cá nhân. Theo hình mẫu học, đứa trẻ thẩm thấu một cách bị động những đặc điểm nổi bật thích hợp của môi trường vào dòng liên tục phát triển. Điều này tương phản với sự nhấn mạnh mang tính nhận thức luận về sự phát triển như một sự chủ động xây dựng kiến thức trong những giai đoạn chuyên biệt có đặc trưng là các phương thức tổ chức và biểu đạt khác biệt.
927. Least effort principle: Nguyên lí nỗ lực tối thiểu
Giả thuyết căn bản về hành vi cho rằng một người hay động vật sẽ chọn một đường lối hành động có vẻ đòi hỏi ít nỗ lực nhất hoặc vướng phải ít kháng cự nhất. Cũng gọi là law of least action (luật hành động tối thiểu).
928. Left-hemisphere consciousness: Ý thức bán cầu não trái
Tuyên bố của nhà thần kinh Tâm lý học nhận thức người Mĩ Michael Gazzaniga rằng bán cầu não kiểm soát lời nói (bán cầu não trái ở hầu hết mọi người) là nơi chứa đựng ý thức. Những người khác, bao gồm Roger Sperry, đã đề xuất rằng cả hai bán cầu não đều có ý thức một cách độc lập. So sánh với ý thức bán cầu não phải (right-hemisphere consciousness).
929. Legitimacy knowledge: (sự) Nhận biết hợp thức
[trong Tâm lý học xã hội] Vai trò của sự đồng nhất hoá với nhóm của một cá nhân đóng góp vào hình ảnh tự thân (self-image) và những đánh giá về giá trị cá nhân. Sự nhận biết hợp thức xuất phát từ tri nhận của cá nhân về sự chấp nhận về mặt văn hoá của nhóm màu da, tính dục, dân tộc hay tôn giáo. Nó thường tương phản với competence knowledge (nhận biết năng lực) là thành tố của hình ảnh tự thân, xuất phát từ tài năng và thành tựu của cá nhân.
930. Leisure lifestyle: Lối sống thư nhàn
Lối sống trong đó sự thư nhàn và thời gian tự do đóng vai trò nổi bật. Các hoạt động thư nhàn (thú chơi, giải trí, các hoạt động tự chọn) thay thế một cách rộng rãi hay toàn bộ các hoạt động bắt buộc (làm việc vì tiền…) như trường hợp của những người đã về hưu. Một lối sống bao gồm các hoạt động thư nhàn đều đặn được cho là là tốt cho cả sức khoẻ thể chất lẫn sức khoẻ tâm trí.
931. Lesbian feminism: (tư tưởng) Nữ quyền đồng tính ái
Một kiểu tư tưởng nữ quyền nhấn mạnh ý nghĩa xã hội chính trị của trào lưu đồng tính ái nữ (lesbianism). Vượt quá hàm ý là trào lưu đồng tính ái nữ có thể cho phụ nữ quyền kiểm soát đời sống tính dục của chính mình, nó gợi ý rằng trào lưu đồng tính ái nữ là sự bác bỏ tối hậu đối với chế độ phụ quyền (patriarchy). (Thuật ngữ lesbianism xuất phát từ tên đảo Lesbos ở biến Aegea nơi nữ thi sĩ Sappho (khoảng năm 600 TCN) viết những bài thơ về dâm tình giữa các phụ nữ với nhau. Cũng gọi là Sapphism).
932. Less-is-more hypothesis: Giả thuyết ít là nhiều
Đề xuất rằng các hạn chế về thức nhận (nhận thức) của ấu nhi và thiếu nhi có thể có tác dụng đơn giản hoá kho ngôn ngữ mà các em xử lí, khiến cho dễ dàng học hệ thống cú pháp phức tạp của bất kỳ ngôn ngữ nào. Thuật ngữ xuất phát từ phương châm thiết kế lừng danh của kiến trúc sư Mĩ gốc Đức Ludwig Mies van der Rohe (1886-1969), do nhà Tâm lý học Mĩ thế kỷ 21 Eliss L. Newport đề xuất.
933. Level I and Level II tests: (các) Đo nghiệm trình độ I và II
Các đo nghiệm về trí khôn dựa trên những năng lực có thể được coi như sắp xếp theo thứ bậc ở hai trình độ khác nhau. Trình độ thứ nhất là xử lí liên kết, trình độ thứ hai là xử lí khái niệm. Theo thuyết này, các nhóm màu da và dân tộc có xu hướng thể hiện rất ít khác biệt trong các đo nghiệm trình độ I nhưng có những khác biệt về chất trong các đo nghiệm trình độ II. Được phát triển bởi nhà Tâm lý học Mĩ Arthur Jensen (1923-)
934. Level-of-aspiration theory: Thuyết trình độ khát vọng
[trong Tâm lý học Xã hội] Một cách tiếp cận mang tính khái niệm đối với hiệu năng thực hiện của nhóm và cá nhân, cho rằng các hậu quả về tình cảm, động lực và ứng xử của bất kì sự thực hiện cụ thể nào sẽ được xác định không chỉ bởi mức độ tuyệt đối của thành công đạt được mà còn bởi thành quả hay mục tiêu lí tưởng được hình dung trước khi làm nhiệm vụ.
935. Levels-of-processing model of memory: Hình mẫu ghi nhớ theo các trình độ xử lí
Thuyết cho rằng việc mã hoá đưa vào trí nhớ và do đó việc ghi nhớ tiếp sau đó, phụ thuộc vào độ sâu của kiến tạo nhận thức (cognitive elaboration) mà thông tin nhận được và rằng sự mã hoá sâu sẽ cải thiện trí nhớ. Trong những thí nghiệm quyết định thời kì đầu, độ sâu đạt được là nhờ việc xử lí những từ cần nhớ hơn là do tập trung chú ý vào những chiều kích ngoại vi. Phát biểu vào năm 1972 bởi các nhà Tâm lý học Canada Fergus I.M. Craik (1935-) và Robert S. Lockhart.
Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 72) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024