695. Halo effect: Hiệu ứng hào quang
Trong giác tri (tri giác) về người, là sự khái quát hoá từ giác tri về một đặc trưng, nét tính cách hay thuộc tính nhân cách nổi trội, đưa đến ấn tượng tổng thể về nhân cách, đến những tương liên được thổi phồng giữa các đặc trưng được xếp hạng. Hiệu ứng này được tường trình đầu tiên bởi nhà Tâm lý học Mĩ Frederic Lyman Wells (1884-1964) trong một nghiên cứu về xếp hạng công lao văn học của các tác giả, công bố trong Archives of Psychology (Lưu trữ Tâm lý học) năm 1907. Nhà Tâm lý học Mĩ Edward Lee Thornlike (1874-1949) giới thiệu thuật ngữ halo error (sai lầm hào quang) vào năm 1920. Thuật ngữ đôi khi được dùng hạn chế trong những ví dụ dẫn đến sự đánh giá quá cao nhân cách tổng thể.
696. Hamilton Depression Rating Scale: Thước đo độ trầm cảm Hamilton
Một thước đo trầm cảm được sử dụng rộng rãi, chủ ở một danh sách 17 triệu chứng, nhằm xếp hạng theo các thước 3 điểm và 5 điểm sau khi phỏng vấn. Các triệu chứng là: tâm trạng trầm cảm (0-4); cảm thức có tội (0-4); tự tử (0-4); mất ngủ mức khởi đầu (0-2); mất ngủ mức giữa (0-2); mất ngủ mức cuối (0-2); công việc và hoạt động bị rối loạn (0-4); chậm trễ về tâm vận động (0-4); khích động về tâm vận động (0-4); lo âu tâm cảm (0-4); lo âu thân cảm (0-4); các triệu chứng về tiêu hoá (0-2); loạn chức năng tính dục hay rối loạn kinh nguyệt (0-2); chứng bệnh tưởng (0-4); mất trọng lượng (0-2); thiếu trực nhận (0-2). Điểm tối đa là 52, 10-13 là trầm cảm nhẹ, 14-17 là trầm cảm vừa, 18-30 là trầm cảm rõ rệt, trên 30 là trầm cảm nặng. Viết tắt: HAM-D hay HRSD. Được phát triển bởi thầy thuốc tâm thần người Anh Max Hamilton (1912-88) và được công bố lần đầu trong Journal of Clinical Psychiatry (Tập san Tâm thần học lâm sàng) năm 1960.
697. Hand-washing obsession: Ám ảnh rửa tay
Bận tâm dai dẳng và phi lí về việc rửa tay, cũng gọi là ablutomania. Đặc trưng của Rối loạn ám ảnh-ép buộc (Obsessive-compulsive Disorder).
698. Haptic touch: Xúc giác bàn tay
Một trong những hình thức xúc giác quan trọng nhất, dính líu đến việc thăm dò chủ động, thường là với bàn tay, hay trải nghiệm khi bàn tay phủ lên một vật và thăm dò bề mặt của nó, cho ta thông tin về hình dạng chung và cho phép nhận ra vật.
699. Haptics: Xúc giác học
Nghiên cứu xúc giác, đặc biệt như một cách chủ động thăm dò và có được thông tin về môi trường, và sự áp dụng nghiên cứu này vào các hệ thống thông tin.
700. Hard-easy effect: Hiệu ứng khó-dễ
Khuynh hướng quá tự tin về việc trả lời đúng câu hỏi khó và thiếu tự tin với câu hỏi dễ. Hiện tượng này được tường trình lần đầu bởi các nhà Tâm lý học Mỹ Sarah C. Lichtenstein (1933-) và Baruch Fischhoff (1946-) trong một bài viết trên tờ tập san Organizational Behavior and Human Performance (Hành vi tổ chức và Hiệu năng của con người) năm 1977. Cũng gọi là discriminability effect (hiệu ứng phân biệt) hay difficulty effect (hiệu ứng khó khăn).
701. Harm reduction: (sự) Giảm thiểu tác hại
Cách tiếp cận mang tính lí thuyết trong các chương trình nhằm giảm thiểu những tác động có hại hay những hành vi có nguy cơ (như uống rượu, dùng ma tuý, hoạt động tính dục bừa bãi) hơn là diệt trừ tất cả các hành vi cùng với nhau. Chẳng hạn, các chương trình tập trung vào việc uống rượu không đòi bỏ hẳn rượu mà chỉ toan dạy cách lường trước những mối nguy của việc uống quá độ và học cách uống rượu an toàn.
702. Hate crime: Tội ác kì thị
Tội ác bạo lực có động cơ căm ghét một nhóm người nào đó mà nạn nhân thuộc về (sắc tộc, tôn giáo, thói quen tính dục như đồng tính…)
703. Hazard control: (sự) Kiểm soát nguy cơ
Tiến trình nhận diện, đánh giá và triệt tiêu những nguy cơ từ một môi trường, hệ thống hay sản phẩm, hay bảo vệ người sử dụng và người lao động khỏi những nguy cơ khi chúng không thể bị triệt tiêu hoàn toàn.
704. Hawthorne effect: Hiệu quả Hawthorne
Sự cải thiện thành tích hay sản lượng của công nhân hoặc sinh viên do việc đưa vào những phương pháp hay điều kiện làm việc mới, bất kể tính chất của các thay đổi; hiệu quả thường được qui cho cảm nhận là mình đang bị quan sát. Giữa thập niên 1920, những đo nghiệm không chính thức về hiệu quả của các thay đổi về ánh sáng cho thấy công nhân nữ làm việc nhanh hơn bất kể sự thay đổi là gì. Điều tra chính thức đầu tiên về hiệu quả Hawthorne là về thời gian nghỉ và giờ giấc làm việc, tiến hành từ 1927 đến 1932 dưới sự chỉ đạo của nhà Tâm lý học người Úc Elton Mayo (1880-1949) với sự cộng tác của nhà nghiên cứu quan hệ người với người Fritz Jules Roethlisberger của Mĩ (1896-1974) và những người khác. Việc diễn giải các nghiên cứu Hawthorne đã là vấn đề tranh cãi, đặc biệt từ giữa thập niên 1970. Được đặt tên theo các nghiên cứu Hawthorne ở Chicago, tại Công ty Western Electric chuyên sản xuất thiết bị cho Hệ thống điện thoại Bell, 7 nghiên cứu độc lập được tiến hành về hiệu quả của những thay đổi về điều kiện làm việc tiến hành từ 1924 đến 1932.
705. Health psychology: Tâm lý học sức khoẻ
Một lĩnh vực Tâm lý học ứng dụng liên quan đến các phương diện tâm lí của sức khoẻ thể chất, bao gồm việc tăng cường sức khoẻ, phòng tránh và điều trị bệnh tật và nhận diện các nguyên nhân tâm lí, tương liên giữa sức khoẻ và bệnh tật. Một bài bình điểm về nhiều thập niên nghiên cứu, công bố trên Annual Review of Psychology (Niên chí Tâm lý học) năm 2014 kết luận rằng hạnh phúc không có vẻ là một nguyên nhân của sức khoẻ tốt, cũng như các xúc cảm tiêu cực như lo lắng hay trầm cảm không phải nguyên nhân đáng kể của sức khoẻ xấu, mà sự tận tâm (conscientiuosness) có vẻ liên kết đáng kể đến sức khoẻ và sự an khang trong suốt cuộc đời.
706. Hedonic well-being: (sự) Phúc lạc
Hạnh phúc vì cảm thức lạc thú, phân biệt với eudaimonic well-being: một đằng là cảm nhận về cuộc sống mình đang sống, một đằng là cảm nhận khi suy nghĩ về nó.
707. Hemisity: Thức nhận (nhận thức) theo bán cầu não
Phương thức ưa thích của diễn trình thức nhận (nhận thức) liên kết với ưu thế của bán cầu não phải hay trái khi suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử. Người có ưu thế bán cầu trái có xu hướng logic, chữ nghĩa, lo âu và hướng nội hơn người có ưu thế bán cầu phải. Thuật ngữ hemisphericity được đặt bởi nhà sinh lí thần kinh học Mĩ Joseph E.Bogen (1926-2005) trong một bài viết trên tờ Bulletin of the Los Angeles Neurological Society (Tập san của Hội Thần kinh học Los Angeles) năm 1969. Nhà thần kinh học Bruce Eldine Morton (1938-) đưa thuật ngữ hemisity vào một bài viết trên mạng năm 2000.
708. Henning’s prism: Lăng kính Henning
Sự phân loại các mùi theo 6 mùi cơ sở: thơm (như hoa hồng), ether (như ether hay nước tẩy), resin (như nhựa resin, nhựa thông), hương liệu (như quế), hư thối (như trứng ung) và cháy (như dầu nhựa đường). Bốn mùi đầu được biểu diễn như 4 mặt của lăng kính. Cũng gọi là odour prism hay smell prism (lăng kính mùi). Đặt tên theo nhà Tâm lý học Đức Hans Henning (1885-1946), người đã công bố nó vào năm 1915 trong sách Der Geruch (Mùi).
709. Henning’s tetrahedron: Khối bốn mặt Henning
Sự phân loại các vị theo một hình kim tự tháp có đáy tam giác, các góc thể hiện những vị cơ sở: ngọt (như đường), chua (như chanh, dấm), mặn (như muối), và đắng (như kí ninh), và các mũi nhọn khác thể hiện những vị trộn từ 4 vị cơ sở. Đặt tên theo nhà Tâm lý học Đức Hans Henning (1885-1946), người đã công bố nó vào năm 1927. Cũng gọi là taste tetrahedron (khối bốn mặt các vị).
710. Hermeneutics: Thông diễn học
– Thuật ngữ được sử dụng lần đầu bởi triết gia Đức Wilhem Dilthey (1833-1911) để chỉ nghệ thuật, kĩ năng hay lí thuyết diễn giải hành vi, lời nói và bài viết của con người theo các ý định và ý nghĩa, sử dụng những phương pháp tìm hiểu có thể áp dụng vào các ngành khoa học tự nhiên.
– Ngành kiến thức xử lí việc diễn giải, đặc biệt là văn bản văn học và Thánh kinh.
– (trong thuyết hiện sinh) Sự thảo luận về ý nghĩa cuộc sống.
711. Hedonic contingency hypothesis: Giả thuyết về khả năng gây khoái cảm
Lý thuyết về tình cảm và thông tin, cho rằng người ta xem xét hàm ý gây khoái cảm của thông tin khi quyết định việc đi sâu khai thác thông tin. Khi người ta có tâm trạng tích cực, họ có xu hướng chú ý cao độ đến tác động của thông tin với tâm trạng của mình. Nếu thông tin được coi là hưng phấn, họ sẽ dấn vào khai thác hết mức để duy trì tâm trạng tích cực của mình, nếu thông tin được coi là không vui, thì sẽ ít khai thác. Khi người ta có tâm trạng tiêu cực, họ có xu hướng ít chú ý khai thác các hậu quả gây khoái cảm vì thông tin có thể khiến họ trở nên tích cực hơn.
712. Helplessness theory: Thuyết bất lực
Thuyết cho rằng người gặp đi gặp lại các tình huống căng thẳng vượt tầm kiểm soát sẽ mất khả năng quyết định hay dấn thân hiệu quả vào hành vi có mục đích.
713. Here and now: Bây giờ, ở đây
Trong tâm lý liệu pháp, gồm liệu pháp nhận thức, tình cảm, và ứng xử nổi lên ở bất kì thời điểm nào trong liệu trình, cũng như mối quan hệ giữa nhà trị liệu với người bệnh ở một thời điểm tương ứng. Khi cách tiếp cận “bây giờ ở đây” được sử dụng trong tâm lý liệu pháp, người ta nhấn mạnh vào việc hiểu những cảm nhận hiện tại và phản ứng liên cá nhân xảy ra trong liệu trình chứ không nhấn mạnh hay khai thác trải nghiệm quá khứ hay những lý do nằm bên dưới của ý nghĩ, cảm xúc hay hành vi của người bệnh.
714. Herstory: Lịch sử theo nhãn quan nữ quyền
Thuật ngữ được chế bởi các nhà tranh đấu nữ quyền ở Mỹ năm 1970, chơi chữ từ danh từ history (lịch sử) được diễn giải thành his story (chuyện kể của anh ta – nam giới), từ đó herstory có nghĩa là her story (chuyện kể của chị ta – nữ giới).
715. Heterosociality: Quan hệ xã hội nam nữ
Quan hệ giữa hai phái ở trình độ xã hội (hơn là tính dục hay lãng mạn).
716. Heuristic: (sự) Lựa chọn theo thói quen
Một qui trình vội vã, sẵn sàng lựa chọn quyết định, phán xét hay giải quyết theo thói quen chứ không áp dụng một thuật toán hay so sánh kỹ càng các phương án có thể có, do đó không bảo đảm có kết quả đúng hay tối ưu. Khái niệm được tìm thấy dấu vết trong tác phẩm của nhà khoa học chính trị và lý thuyết gia về sự quyết định người Mỹ Herbert Alexander Simon (1916-2001), ông gợi ra từ năm 1957, rằng những người ra quyết định có hạn chế về lý tính sử dụng những qui trình như thế khi không dễ dàng có được sự xem xét mọi phương án. Khái niệm được giới thiệu lại trong Tâm lý học đầu thập kỷ 1970 bởi các nhà Tâm lý học Mỹ gốc Israel Amos Tversky (1937-96) và Daniel Kahneman (1934-). Cũng gọi là cognitive heuristic.
717. Hidden observer: Người quan sát giấu mặt
Trong một người bị thôi miên, có một phần tâm trí vận hành riêng rẽ, trải nghiệm mọi chuyện mà người bị thôi miên có vẻ không nhận biết. Chẳng hạn, một người bị thôi miên được tiêm thuốc giảm đau có thể không có cảm giác đau, nhưng khi nhà thôi miên nói: “Khi tôi đặt tay lên vai ông, tôi sẽ có thể nói chuyện với một phần giấu mặt của ông, phần ấy biết được những chuyện xảy ra trên cơ thể ông mà cái phần tôi đang nói đây không biết”, thế là ngườI quan sát giấu mặt có thể hiện ra và ngườI bị thôi miên có thể thấy cảm giác đau. Hiện tượng được quan sát vào năm 1899 bởi nhà Tâm lý học người Mỹ William James (1842-1910) và nhiều nhà nghiên cứu sau đó, nhưng đã được nghiên cứu thử nghiệm lần đầu vào năm 1973 bởi nhà Tâm lý học người Mỹ Ernest Roquiequit Hilgard (1904-2001), ông đã khám phá lại nó nhờ một cơ duyên trong một thí nghiệm, khi một người điếc được thôi miên được khe khẽ yêu cầu giơ ngón tay trỏ nếu như “phần nào đó” của ông ta nghe được tiếng của nhà thôi miên, thế là ngón tay giơ lên và người được thôi miên lập tức hỏi có phải thính giác của mình đã phục hồi, vì ông đã cảm thấy ngón tay mình cử động.
718. Hindsight bias: Thiên kiến phán đoán hậu kiện
Xu hướng đánh giá quá lố phán đoán hậu kiện (sau khi sự kiện đã xảy ra), coi là mình đã dự đoán được sự kiện từ trước. Được tường trình lần đầu vào năm 1975 bởi nhà Tâm lý học người Mỹ Baruch Fischhoff (1946-), thoạt tiên ông mời mọi người tiên đoán việc có vẻ như sẽ xảy ra (như Tổng thống Mỹ đi thăm China) và sau đó nhớ lại dự đoán của họ. Kết quả cho thấy họ có thiên kiến là mình dự đoán đúng như sự việc xảy ra.
719. Histrionic personality disorder: Rối loạn nhân cách kịch tính
Đặc trưng là một mẫu cảm xúc quá mức và hành vi tìm kiếm sự chú ý, bắt đầu từ tuổi mới lớn. Các dấu hiệu và triệu chứng là: khó chịu khi mình không phải trung tâm chú ý, tương tác quyến rũ tính dục không thích hợp, thể hiện cảm xúc dễ dãi nông cạn, kiên trì sử dụng ngoại hình để thu hút sự chú ý, phong cách nói năng gây ấn tượng mà không có đủ nội dung, tự kịch tính hoá và xu hướng coi các mối quan hệ thân thiết quá sự thực. Viết tắt: HDP
720. Hoarding disorder: Rối loạn tích cóp
Rối loạn tâm trí có đặc trưng là khó chia sẻ, xa rời, vứt bỏ tài sản bất kể giá trị thực của chúng, và đau buồn khi bị buộc phải xa rời, tạo nên sự suy giảm trong vận hành xã hội, nghề nghiệp hàng ngày. Người mắc tật chứng này thường tích cóp đồ vật đầy chỗ ở cho đến khi không còn dùng được. Theo một thống kê thì độ phổ biến của tật này là 2% ở Mỹ và 6% ở châu Âu.
721. Hoarding orientation: Định hướng tích cóp
(trong khuyết Freud mới) Thuật ngữ được sử dụng bởi nhà Tâm lý học Mĩ gốc Đức Erich Fromm (1900-80) để chỉ kiểu tính cách trong đó an ninh có được do giữ chặt sở hữu của bản thân, việc tiêu pha bị cảm nhận là đe doạ và gây lo âu, và sự hà tiện mở ra cả ở lĩnh vực tình cảm lẫn vật chất.
722. Hot sauce task: Bài tập món xốt cay
Một cách đo tính xâm hấn (hung tính) trong thí nghiệm, phát triển bởi nhà Tâm lý học Mĩ Joel D. Leiberman (1967-) và các đồng nghiệp, công bố trong tập san Agressive Behavior (Hành vi xâm hấn) năm 1999. Bài tập được cải trang như một nghiên cứu về việc nếm đồ ăn. Sau khi nếm và xếp hạng một mẫu đồ ăn, người tham dự được yêu cầu chuẩn bị một món xốt dành cho thực khách tưởng tượng vốn là người đã khiêu khích mình. Lượng xốt cay được cho vào món ăn được coi như chỉ số xâm hấn đáp lại sự khiêu khích.
723. Humanistic psychology: Tâm lý học nhân văn
Một cách tiếp cận Tâm lý học trở thành phổ biến vào thập niên 1960, chịu ảnh hưởng của thuyết hiện sinh và hiện tượng luận, nhấn mạnh ý chí tự do, trách nhiệm và việc tự thực hiện của cá nhân.
724. Hypermnesia: Kí ức gia tăng
Sức nhớ gia tăng, thường do ảnh hưởng của thôi miên hay thuốc kích thích nói thật (truth drug, dùng trong điều tra tội phạm). Thuật ngữ cũng được dùng để chỉ một hình thức nhớ lại, như các bức hình hay đoạn văn xuôi được tái hiện cách nhau không xa giữa những đo nghiệm liên tiếp. Chẳng hạn, người xem một video ghi lại cảnh ăn trộm và được đo nghiệm lặp đi lặp lại sau vài giờ hoặc vài ngày để nhớ lại những chi tiết quan trọng, cho thấy sự gia tăng kí ức qua các lần đo nghiệm. Nếu khoảng cách giữa các lần đo nghiệm lên đến một tuần lễ, thì sự nhớ lại có xu hướng suy giảm.
725. Hyper-reflection: (sự) Phản tư cực độ
Ý thức quá mức về hành vi của bản thân, đến mức gây trở ngại cho việc làm tình, tương tác xã hội và những hoạt động khác đòi hỏi kĩ năng. Ý tưởng này có thể bắt nguồn từ kinh Veda của Ấn giáo, theo đó thì người biết không thể được biết đến, người thấy không thể được nhìn thấy; nhưng lần đầu được khảo sát trong Tâm lý học lâm sàng bởi nhà tâm thần học người Áo Viktor E. Frankl (1905-97). Nó được chữa trị bằng kĩ thuật giải-phản tư (de-reflection).
726. Hyperthymnesia: Siêu kí ức
Người có nét nổi bật này dùng rất nhiều thời gian để nghĩ về các sự kiện quá khứ trong đời mình và có năng lực nhớ lại khác thường. Tình trạng này được nhận diện lần đầu ở trường hợp một phụ nữ Do Thái 41 tuổi và được tường trình trong một bài viết trên tập san Neurocase năm 2006, được gọi là hyperthymestic syndrome (hội chứng siêu kí ức).
727. Hypnagogic image: Hình ảnh nửa tỉnh nửa mơ
Hình ảnh như trong mơ, thường sống động và giống như ảo ảnh, thường đi kèm với bóng đè, trải nghiệm của người trong trạng thái chuyển từ thức sang ngủ.
728. Hypnoid state: Trạng thái giả thôi miên
Trong phân tâm học, là khái niệm được đưa ra bởi thầy thuốc người Áo Joseph Breuer (1842-1925) để chỉ một trạng thái ý thức giống như thôi miên, xảy ra khi một xúc cảm đưa ta vào mơ màng. Thuyết Breuer được khởi đăng trong Standard Edition II của Freud. Sau đó khái niệm bị Freud khước từ trong Standard Edition VII (1901/5).
729. Hypnopompic image: Hình ảnh nửa mơ nửa tỉnh
Hình ảnh như trong giấc mơ, thường sống động và giống như ảo ảnh, đôi khi đi kèm bóng đè, trải nghiệm của người chuyển từ ngủ sang thức dậy.
730. Hypomanic episode: Giai đoạn hưng cảm nhẹ
Có những triệu chứng tương tự giai đoạn hưng cảm nhưng không nặng đến mức gây ra suy giảm rõ rệt trong vận hành xã hội hay nghề nghiệp hay đến mức phải vào bệnh viện; đặc trưng là lạc quan phi thực tế, tăng động, giảm nhu cầu ngủ và thường tiêu tiền bừa bãi. Cũng gọi là hypomania hay hypomanic disorder (rối loạn hưng cảm).
731. Hypoactive sexual desire disorder: Rối loạn thiểu năng ham muốn tính dục
Thiếu hoặc mất hứng thú tính dục và ham muốn hoạt động tính dục. Có thể bao quát mọi hình thức hoạt động tính dục hay mang tính tình thế, hạn chế đối với một đối tác hay một kiểu hoạt động tính dục. Cũng có thể kéo dài suốt đời hay là kết quả của một sự cố nào đó trong đời sống hay là một vấn đề về quan hệ. Tần suất hoạt động tính dục không thể được dùng làm cơ sở duy nhất để chẩn đoán rối loạn này, vì người ta có thể dấn vào việc làm tình do áp lực của đối tác.
732. Hypothetico-deductive reasoning: Suy luận giả thuyết-diễn dịch
(trong lí thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget) Suy luận logic trừu tượng, xuất hiện ở đầu tuổi thiếu niên và đánh dấu thời kì các thao tác hình thức. Suy luận giả thuyết-diễn dịch nổi bật ở khả năng tư duy trừu tượng và chứng nghiệm các giả thuyết, giải phóng người thiếu niên khỏi sự hoàn toàn dựa trên tư duy cụ thể và giác tri (tri giác) tức thời.
733. Hypoxyphilia: Yếm khí dâm
Chứng tà dâm có đặc trưng là thường trở đi trở lại việc hứng tình tưởng tượng, thôi thúc hay ứng xử tính dục liên can đến một hình thức khổ dâm nguy hiểm và đôi khi chết người, trong đó người ta tự kích thích bằng cách làm mình ngạt thở như bịt mũi, thắt cổ, chụp túi nhựa hay sử dụng hoá chất (như axit nitric).
- Hysterical technique: Kĩ thuật hysteria
(trong phân tâm học) Một trong bốn kĩ thuật phòng vệ đề xuất bởi nhà phân tâm học người Scotland W. Ronald D. Fairbairn (1889-1964). Liên can đến việc ngoại hiện đối tượng tốt lành và nội nhập (nhập tâm) đối tượng xấu, khiến cho người mắc chứng hysteria coi những thôi thúc bên trong là xấu.
735. Hysterogenic zone: Vùng hysteria
(trong phân tâm học) Những địa hạt cơ thể được nhận diện vào năm 1980 bởi nhà thần kinh học Pháp Jean Martin Charcot (1825-93) như các điểm tập trung những triệu chứng của chứng hysteria chuyển đổi (conversion hysteria, conversion disorder). Theo Charcot, người bệnh tự mô tả mình là đau đớn nhưng lại trải nghiệm khoái lạc tính dục nếu được kích dục (khi đó chúng vận hành như các vùng kích dục), mặc dù việc ấy có thể đưa ngay đến cơn hysteria. Sigmund Freud thừa nhận thuyết này vào năm 1895 trong cuốn Studies in Hysteria (Các nghiên cứu về Hysteria) và “Some General Remarks on Hysterical Attacks” (Một số nhận xét chung về các cơn hysteria) (1908/9), trong đó ông mô tả một cơn hysteria như thế như “tương đương việc giao hợp”.
Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 72) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024