Từ Li (1)

936. Libidinal types: (các) Kiểu tính dục

[trong Thuyết Phân tâm] Một sự phân loại nhân cách dựa trên sự phân phối tính dục năng (libido) hay năng lượng tính dục (sexual energy) trong tâm (psyche). Trong kiểu dâm tình (erotic type), libido vẫn nằm nhiều ở ID (cái Nó) và hứng thú chính là ở việc yêu và được yêu. Trong kiểu ám ảnh (obsessional type), libido được đầu tư nhiều vào superego (cái siêu ngã) và cá nhân được thống trị bởi lương tâm. Trong kiểu tự si mê (narcissistic type), libido được đầu tư nhiều nhất vào ego (cái ngã) và hứng thú chính là việc tự bảo toàn, ít quan tâm tới người khác hay mệnh lệnh của cái siêu ngã. Thuật ngữ do Sigmund Freud chế tạo.

937. Libido: Tính dục năng/ Sinh lực

– [trong Thuyết Phân tâm], là psychic energy (tâm năng lượng) của bản năng sống nói chung, hay năng lượng của bản năng tính dục nói riêng. Trong phát biểu đầu tiên, Sigmund Freud quan niệm năng lượng này là mang tính tính dục một cách hẹp hòi, nhưng sau đó ông mở rộng khái niệm để bao gồm mọi biểu hiện của tình yêu, khoái lạc và tự bảo toàn.

– [trong Tâm lý học Phân tích của Carl Jung], là sinh lực tổng quát cung cấp năng lượng cho mọi kiểu hoạt động: sinh học, tính dục, xã hội, văn hoá và sáng tạo.

– Tổng quát hơn, là năng lượng hay ham muốn tính dục.

938. Life-change unit (LCU): Đơn vị thay đổi cuộc sống

Một đơn vị đo lường trên bảng xếp hạng các sự kiện trong cuộc đời, trên đó những trải nghiệm sống khác nhau được cho các giá trị bằng số theo tiềm năng sinh ra căng thẳng (stress) của chúng. Chẳng hạn, li hôn và cái chết của người phối ngẫu hay của người có ý nghĩa khác được xếp ở hạng cao, về hưu ở hạng vừa, chuyển nhà và thay đổi thói quen ngủ ở hạng thấp. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các cá nhân có điểm tích luỹ LCU cao (tức điểm tiềm năng stress – high potential-stress score) cho thấy những thay đổi nhiều hơn về sức khoẻ.

939. Life lie: (sự) Dối trá về cuộc sống

– Niềm tin sai lầm của một số cá nhân, rằng kế hoạch sống của mình thất bại là do người khác hay do hoàn cảnh bên ngoài sự kiểm soát của mình. Được đưa ra như phương pháp tự giải thoát khỏi trách nhiệm cá nhân. Định nghĩa của Alfred Adler.

– Bất kì niềm tin sai lầm nào là cơ sở xây dựng cuộc sống của một cá nhân.

940. Lifeline: Đường đời

Một kĩ thuật trị liệu sử dụng trong trị liệu nhóm hay cá nhân, trong đó mỗi cá nhân vạch những đường thể hiện cuộc đời mình, đánh dấu những sự kiện quá khứ và tương lai với các góc chỉ ra tiến trình vận hành bằng phẳng, đi lên, hay đi xuống, cũng như những ngày tháng cụ thể và tác động xung quanh những sự kiện ấy. Việc thảo luận đồ hình này với nhà chữa trị có thể làm tăng tiến sự nhận biết và hiểu về các mẫu đời sống của cá nhân.

941. Life space: Không gian sống

[trong Thuyết về Trường (Field Theory)], là “tổng số những sự kiện có thể xảy ra” đối với một người trong một thời gian cụ thể, nghĩa là, những lựa chọn có thể có cùng với môi trường chứa đựng chúng. Không gian sống là một biểu trưng của các ảnh hưởng môi trường, sinh học, xã hội, và tâm lí xác định một thực tại độc nhất của một con người ở một thời điểm nhất định. Chứa đựng bên trong không gian sống là những năng lực tác động tích cực và tiêu cực, nghĩa là những lực hay áp lực đối với cá nhân để tiếp cận một mục tiêu hay di chuyển khỏi một hiểm nguy được tri nhận.

942. Life-space interview: Phỏng vấn về không gian sống

Một hình thức can thiệp vào khủng hoảng, gồm những kĩ thuật và chiến lược trong đó trẻ em đang được điều trị được các nhân viên điều trị phỏng vấn trong các thời điểm khủng hoảng hay căng thẳng, chẳng hạn, ngay sau khi bị một đứa trẻ khác tấn công. Những nỗ lực được thực hiện để chuyển đổi những sự kiện hàng ngày này thành các trải nghiệm trị liệu bằng cách khôi phục lòng tin của trẻ em vào chính mình và tăng cường cái Tôi của chúng. Bắt nguồn từ nhà Tâm lý học Mĩ gốc Áo Fritz Redl (1902-1988).

943. Life-span perspective: Cách nhìn (Phối cảnh) cả đời

Một cách nhìn (phối cảnh) tổng quát nhấn mạnh rằng (a) sự phát triển của con người là một diễn trình thay đổi trong cả đời; (b) sự thay đổi trong phát triển là đa chiều và đa hướng, bao gồm cả được và mất – nghĩa là, cả tăng và giảm – trong hiệu năng thực hiện (những nhiệm vụ nhận thức) khi người ta già đi; (c) có sự uyển chuyển trong hành vi của con người suốt một đời.

944. Lightning calculator: Năng lực tính nhanh như chớp

Một năng lực cá nhân tính nhẩm cực nhanh. Trong khi một số có IQ cao, phần lớn những người này có năng lực chuyên biệt rất phát triển nhưng không đặc biệt cao về IQ.

945. Liking scale: Cân đo sự yêu thích

Một cách đo đạc [với bảng câu hỏi] mức độ hấp dẫn của một người khác đối với một cá nhân, thường bao gồm ý muốn làm bạn với người ấy cũng như sự đánh giá tích cực về những đặc trưng nhân cách của người ấy. Một cách đo đạc như thế đã được công bố bởi nhà Tâm lý học xã hội Mĩ Zick Rubin (1944-) vào năm 1973. Mặc dù Rubin phân biệt cách đo đạc này với cân đo tình yêu (love scale) của ông, nhưng các nghiên cứu đã cho thấy rằng hai chỉ số thường tương liên một cách tích cực.

946. Limerence: Cuồng tình

Một ham muốn tính dục mãnh liệt và sự quan tâm mạnh mẽ đến người khác trong mối quan hệ lãng mạn, đi kèm với sự nhạy cảm mạnh đối với phản ứng của người kia đối với mình. Limerence giảm bớt đáng kể về cường độ sau một hay hai tháng hình thành mối quan hệ. Được mô tả đầu tiên năm 1979 bởi nhà Tâm lý học Mĩ Dorothy Tennov (1928-).

947. Linear causation: Quan hệ nhân quả tuyến tính

Kiểu đơn giản nhất của mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, thường bao gồm một nguyên nhân đơn nhất sinh ra một kết quả đơn nhất hay một chuỗi nhân quả (causal chain) trực tiếp. Quan hệ nhân quả tuyến tính thường tương phản với những hình mẫu quan hệ nhân quả phức hợp hơn bao gồm nhiều nguyên nhân và kết quả.

948. Linear program: Chương trình tuyến tính

Một hình thức dạy học theo chương trình (programmed instruction) trong đó thông tin được trình bày theo những khung nhỏ, riêng rẽ, từng bước, thường trở nên ngày càng phức hợp. Các câu trả lời đúng được đưa ra sau mỗi khung, do đó triệt bỏ việc kéo dài các sai lầm và cho phản hồi tức thời và sự tăng cường liên tục. So sánh với branching (phân nhánh).

949. Linguistic approach: Cách tiếp cận ngữ học

Một phương pháp dạy đọc dựa trên nhận định rằng trẻ em làm chủ được ngôn ngữ nói. Các chữ và âm tương đương được gắn vào các từ có nghĩa với các mẫu chắp vần thông thường.

950. Linguistic intergroup bias: Thiên kiến ngôn ngữ liên nhóm

Xu hướng mô tả và đánh giá những hành vi tích cực của các thành viên trong nhóm và những hành vi tiêu cực của các thành viên ngoài nhóm một cách trừu tượng (mơ hồ) hơn là những hành vi tiêu cực trong nhóm và những hành vi tích cực ngoài nhóm. [Các nhận xét trừu tượng thì mơ hồ và khó chứng tỏ là sai, trong khi các nhận xét cụ thể thì rõ rệt và dễ xoá bỏ với tư cách ngoại trừ của luật lệ, do đó giữ cho các định kiến rập khuôn không thay đổi].

951. Linguistic-kinesic method: Phương pháp ngôn ngữ-vận động

Việc nghiên cứu khách quan các hành vi rối loạn thể hiện trong ngôn ngữ và vận động dính líu đến tương tác giữa các cá nhân.

952. Lip biting: (tật) Cắn môi

Tật thường xuyên cắn môi, có thể là thói quen về thần kinh, hành vi rập khuôn hay liên kết với một rối loạn như triệu chứng Lesh-Nyhan. Cũng gọi là morsicatio labiorun.

953. Lipreading: (sự) Đọc môi

Một phương pháp của người khiếm thính để hiểu các từ được nói ra, trong đó người nghe diễn giải các chuyển động của môi người nói. Một số nghiên cứu tuyên bố chỉ 1/3 các âm nói ra có thể được “đọc” chuẩn xác theo cách này, và việc chú ý đến những diễn đạt trên mặt và ngôn ngữ cơ thể tổng quát, cùng với việc sử dụng “ngôn ngữ tín hiệu” (sign language), giúp nhiều hơn vào việc hiểu này. Cũng gọi là speech reading.

954. Listening attitude: Thái độ nghe

– [trong khuôn khổ trị liệu] Sự cởi mở của nhà chữa trị đối với trải nghiệm của người bệnh, hay sự cởi mở của người bệnh đối với trải nghiệm của chính mình.

– Khuynh hướng hành vi trong đó một người trông đợi và chuẩn bị tiếp nhận một thông điệp. Nhà tâm thần bệnh học Mĩ gốc Ý Silvano Arieti (1914-1982) tuyên bố rằng một người mắc bệnh tâm thần phân liệt quen trải nghiệm ảo giác có thể học để tránh ảo giác khi nhận biết rõ thái độ này.

955. Literalism: (sự) Bám sát sự thực/ nghĩa đen

– Gắn với những thực kiện có thể quan sát, như được trình bày trong khái niệm của Jean Piaget “trách nhiệm khách quan” (responsabilité objective).

– Trả lời “có” hay “không” bằng ngôn từ hoặc cử chỉ, mà không có sự đi sâu về thức nhận, đối với các câu hỏi trong diễn trình thôi miên, được một số người xác nhận nhưng số khác bác bỏ. Một dấu hiệu của trạng thái hôn mê do thôi miên.

– Gắn với nghĩa hiển lộ của một văn bản hay học thuyết, như Biblical literalism (câu nệ nghĩa hiển lộ của Kinh Thánh)

956. Litigious paranoia: Hoang tưởng tranh chấp

Kiểu rối loạn hoang tưởng có đặc trưng là luôn cãi cọ, kêu ca là mình bị hành hạ, khăng khăng là mình bị mất quyền lợi. Thường doạ dẫm và thực hiện việc kiện tụng để sửa những sai trái bị phóng đại hay tưởng tượng.

Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 72) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024