Từ Er tới Ev

493. Erectile dysfunction: Rối loạn (chức năng) cương dương

Thiếu hay mất năng lực cương dương. Nguyên nhân có thể từ tâm lí hay thể chất, bao gồm các hiệu ứng của lạm dụng thuốc hay ma tuý. Nếu một người đàn ông thông thường cương dương hằng đêm hay có thể cương nhờ thủ dâm, nhưng không thực hiện hoặc duy trì được trạng thái cương trong quá trình giao hợp, thì rối loạn được cho là phần lớn hay hoàn toàn do các tác nhân tâm lí.

  1. Eremophilia: Chứng cô độc

Ham muốn cô độc mang tính bệnh lí.

  1. Erethism: Chứng quá mẫn

– Nhạy (mẫn) cảm cao bất thường với kích thích giác quan ở một số hay tất cả các bộ phận của cơ thể. Liên kết với một số điều kiện và là triệu chứng quan trọng của ngộ độc thuỷ ngân.

– Nhạy (mẫn) cảm, kích động hay khó chịu cao bất thường với kích thích, như trong emotional erethism (quá mẫn về cảm xúc).

496. Eriksonian psychotherapy: Liệu pháp tâm lí Erikson

Một hình thức liệu pháp tâm lí trong đó nhà trị liệu làm việc với người bệnh để tạo ra, thông qua thôi miên (đặc biệt là những ám thị gián tiếp) và gợi lên những ẩn dụ, những trải nghiệm trong đời thực nhằm kích hoạt các nguồn ẩn chìm bên trong tâm thần người bệnh.

497. Eros: Bản năng sống

[trong Phân tâm học]: Các bản năng sống, thường bao gồm bản năng tính dục và bản năng cái tôi (bản năng tự bảo tồn), nhắm tạo nên và duy trì sự toàn vẹn của mọi sự vật. Sigmund Freud (1856-1939) không hoàn toàn nhất quán về việc sử dụng thuật ngữ này: trong sách Beyond the Pleasure Principle (Vượt quá nguyên lý khoái lạc) (1920), ông sử dụng nó như từ đồng nghĩa với “libido”: “libido của các bản năng tính dục của chúng ta trùng hợp với Eros của các nhà thơ và triết gia”, nhưng trong những văn phẩm khác, ông đưa vào nội hàm của nó sự tự bảo tồn. Trong cuộc thảo luận cuối cùng về vấn đề này trong sách An outline of Psycho-Analysis (Một đề cương phân tích tâm lý) (1938/40), ông định nghĩa libido là năng lượng liên kết với Eros: “tổng năng lượng có được của Eros, từ nay ta sẽ nói đến nó như “libido”, và ông cũng định căn nguyên lí nền tảng của Eros là sự gắn kết: “thiết lập những đơn vị ngày càng lớn và bảo toàn chúng”, trong khi nguyên lí nền tảng của Thanatos là “tháo rời các mối kết nối và như thế là huỷ hoại các sự vật”. [đặt theo tên thần Eros của thần thoại Hi Lạp, thần tình yêu và con gái của Aphrodite, tiếng Hi Lạp eros là tình yêu hay ham muốn tính dục]

498. Erotica-arousal pattern: Mẫu gây hứng tình

Chuỗi hành động hay kích thích sinh ra đáp ứng tính dục. Mẫu này ở các loài là khác nhau. Ở người, có thể bao gồm trang phục, nước thơm, âm nhạc và các động tác tiền giao hợp (foreplay)

499. Erotic asphyxiation: (sự) Ngạt thở khoái lạc

Khoái cảm tính dục liên kết với trạng thái hạn chế thở (tự làm ngạt thở) trong quá trình hoạt động tính dục.

500. Erotic love: Dâm tình

Một kiểu tình yêu nguyên thuỷ, đam mê và nặng về ham muốn tính dục, bắt rễ từ sự hấp dẫn giới tính [đực-cái].

501. Erotic feminism: Chủ nghĩa nữ quyền tính dục

Một kiểu chủ nghĩa nữ quyền nhấn mạnh tính dục nữ và sự biểu đạt của nó như một cách phản đối sự bóc lột phụ nữ và thoát khỏi sự thống trị của nam giới. Tương phản với một số xu hướng khác trong chủ nghĩa nữ quyền dòng chính, những xu hướng này có thể tỏ ra đề phòng, thậm chí đánh giá thấp sự biểu đạt tính dục.

502. Eroticism: Dâm tính, tính khiêu dâm

– Năng lực hứng tình hay khoái cảm khi được kích hứng

– Bận tâm với hay nhạy cảm với kích thích tính dục

– Việc sử dụng những đề tài, hình ảnh, hay khêu gợi gây cảm hứng tính dục trong giải trí hay nghệ thuật

– [trong thuyết phân tâm]: Những cảm giác tính dục liên kết không chỉ với việc kích thích bộ phận sinh dục mà cả với những bộ phận khác của cơ thể như miệng và hậu môn. Cũng gọi là erotism.

503. Erotic plasticity: Mức chịu tác động về tính dục

Mức độ định hình ham muốn và hành vi tính dục của các nhân tố xã hội, văn hoá và tình huống đối với con người. Có giả thuyết cho rằng phụ nữ dễ bị tác động của các nhân tố này hơn nam giới.

504. Erotization: Tính dục hoá

Sự tham gia của các cơ quan trong cơ thể và các chức năng sinh học hay những hoạt động không chuyên biệt về tính dục vào khoái cảm và thoả mãn tính dục. Ví dụ như sự tính dục hoá một số vùng của cơ thể như miệng hay hậu môn; những cơ quan như núm vú hay da; những chức năng như mút, đại tiểu tiện, hay những hoạt động thị dâm như xem người khoả thân/làm tình; và những khứu cảm liên kết với tính dục. Về mặt lí thuyết, gần như bất kì sự thích thú hay hoạt động nào cũng có thể được tính dục hoá bởi cá nhân, như nhảy múa, ăn… thường không được xem là gợi tình hay chứa những thành phần gợi tình. Cũng gọi là eroticization, libidinization, sexualization.

505. Erotogenic zone: Vùng kích dục

[trong phân tâm học]: Tên khác của erogenous zone, đặc biệt là các vùng miệng, hậu môn và cơ quan sinh dục. Sigmund Freud (1856-1939) vạch ra những ý tưởng đầu tiên của ông về các vùng kích dục trong năm 1896 và 1897 trong những lá thư gửi bạn mình là thầy thuốc người Đức Wilhelm Fliess (1858-1926) rồi công bố lí thuyết vào năm 1905 trong sách Three Essays on the Theory of Sexuality (Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục). Năm 1938, khi xuất bản sách An Outline of Psycho-Analysis (Một đề cương phân tích tâm lý), ông quyết định rằng “thực ra, tất cả cơ thể là vùng kích dục”. Cũng gọi là primary zone (vùng nguyên thuỷ).

506. Erotomania: Chứng cuồng yêu/ cuồng tính dục

– Ảo tưởng được yêu, người yêu thường là người nổi tiếng, có danh giá. Người mắc chứng này thường không có hoặc rất ít liên lạc trực tiếp với người ấy nhưng thường tin rằng người tình bí mật của mình tỏ tình bằng cử chỉ, bằng cách chọn quần áo hay những tín hiệu tế nhị khác. Cũng gọi là Clerambaul’s syndrome .

Luôn bận tâm với những ý nghĩ, hoạt động hay phóng tưởng tính dục

-Hoạt động tính dục thôi thúc, không thoả.

Cũng gọi là aidoiomania.

507. Escape coditioning: (sự) Điều kiện hoá vượt thoát

Một hình thức điều kiện hoá tác động (operant conditioning) trong đó một con vật/người học tránh một kích thích có hại. Điển hình là một con chuột đặt trong một lối đi hẹp và dài có sàn lưới nhiễm điện và có thể vượt thoát khỏi sự kích thích làm đau, bằng cách chạy đến cuối đường và đi vào một hộp đích không nhiễm điện; việc học của nó được chứng tỏ bởi tốc độ chạy ngày càng tăng. Cũng gọi là escape learning (học vượt thoát).

508. E-therapy: Liệu pháp điện tử

Liệu pháp tâm lí thực hiện qua internet, bằng email hay điện thoại. cũng gọi là online counselling/ counseling (tư vấn trên mạng).

509. Eudaimonic well-being: Phúc lạc nội tâm

Một khái niệm cổ đại được đưa vào Tâm lý học hiện đại trong một bai viết trên tờ Journal of Personality and Social Psychology (Tập san nhân cách và Tâm lý học xã hội) năm 1989 bởi nhà Tâm lý học Mĩ Carol D. Riff (1950-) và nhập vào Tâm lý học thực chứng sau năm 2000. Theo Riff, đó là một kiểu phúc lạc có 6 chiều kích: tự chấp nhận, quan hệ tích cực với người khác, tự chủ, làm chủ môi trường, sống có mục đích, và trưởng thành cá nhân. Ý nghĩa chủ yếu của nó vượt lên trên phúc lạc hưởng lạc (hedonic well-being) ngắn hạn; nó phản ánh cảm nhận của ta về đời sống khi nghĩ về đời sống hơn là cảm nhận khi sống đời sống thực.

510: Eureka moment: Thời điểm eureka

Thời điểm một khám phá được nhà khoa học hoàn tất hay một thấu thị xảy ra. Nhìn chung, là một thời điểm hứng khởi, một trải nghiệm kích động/ có ý nghĩa. [tiếng Hi Lạp: heureka = tôi đã tìm thấy nó].

511. Errorless learning: Học loại bỏ sai lầm

Một phương pháp học trong đó các sai lầm được loại bỏ thông qua huấn luyện. Đặc biệt, việc học diễn ra qua nhiều buổi, nhưng trí nhớ chỉ được đo nghiệm vào buổi cuối cùng. Phương pháp này phòng tránh việc sản sinh những câu trả lời không đúng trong quá trình học. Nó được cho là hiệu quả hơn việc học tiêu chuẩn thử-và-sai đối với những cá nhân có trí nhớ khiếm khuyết vì nó loại trừ sự giao thoa (những người này có thể gặp khó khăn về việc nhớ lại những phương pháp hữu hiệu, cũng có thể củng cố các đáp án sai hơn là các đáp án đúng).

512. Ethnotherapy: Liệu pháp dân tộc học

Liệu pháp nhạy cảm với những đặc điểm văn hoá khác biệt của một người bệnh thuộc sắc dân thiểu số và những cách khác nhau trong quan hệ của người bệnh với những người khác, trong việc tự diễn đạt và xử sự với các vấn đề.

513. Evaluation apprehension: (nỗi) Lo sợ bị đánh giá

Nỗi lo âu nổi lên khi một người đang thực hiện một nhiệm vụ trong khi có sự quan sát của những người khác và cảm thấy lo âu vì sự đánh giá hay khen chê của họ. Một trong các hiệu ứng của nó là gia tăng sự kích động người làm nhiệm vụ, có thể cải thiện hay làm hại sự thực hiện tuỳ theo tính chất của nhiệm vụ.

514. Evaluation conditioning: (sự) Điều kiện hoá việc đánh giá

Sự tăng hay giảm mức yêu thích diễn ra như một hậu quả của việc học mang tính liên tưởng hay điều kiện hoá kinh điển, lần đầu tiên được báo cáo bởi nhà Tâm lý học Mĩ gốc Nga Gregory Razran (1901-73) trong một bài viết trên tập san Psycholigical Bulletin (Tập san Tâm lý học) vào năm 1940. Những người tham dự thí nghiệm đánh giá một loạt khẩu hiệu chính trị (được coi như các kích thích có điều kiện) theo cách chọn thích-không thích, và sau đó được yêu cầu đánh giá lần nữa. Những người đánh giá lần 2 sau khi được đãi ăn bữa trưa (được coi như một “kích thích không điều kiện”) thường đánh giá tích cực hơn một cách đáng kể so với những người đánh giá lần 2 trong khi bị hứng chịu một mùi khó chịu. Thuật ngữ được giới thiệu vào năm 1975 bởi nhà Tâm lý học Anh gốc Canada Archie Banks Levey (1924-2012) và nhà Tâm lý học Anh Irene Martin (1926-2009) trong một bài viết trên tập san Behaviour Research and Therapy (Nghiên cứu và Trị liệu Hành vi).

515. Everyday intelligence: Trí khôn thường nhật

Trí khôn sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. Không nói về một kiến tạo có hiệu lực về đo lường tâm lí mà về một loại trí khôn được khái niệm hoá lỏng lẻo liên quan đến những vấn đề mà mọi người đối diện trên cơ sở hằng ngày.

516. Evil eye: Ác nhãn

Một niềm tin dân gian vào những quyền lực siêu nhiên của một cái nhìn trừng trừng xấu ác hay thù địch, gây ra sự tai ương, ốm đau, thương tật hay tàn phá người bị nhìn. Thuật ngữ đặc biệt áp dụng cho một hội chứng liên quan đến văn hoá ở những nước Địa Trung Hải và những vùng khác (tên gốc là MAL DE OJO. Cũng gọi là fascinum.

517. Evocative therapy: Liệu pháp khơi gợi

Liệu pháp dựa trên ý tưởng là hành vi được khởi lên từ những tác nhân nằm bên dưới. Một khi các tác nhân nằm bên dưới một hành vi không thích nghi hay không mong muốn đã được nhận dạng, thì những thay đổi về môi trường và sắp xếp có thể được thực thi để tác động đến những tác nhân ấy và từ đó thay đổi hành vi. [bắt nguồn từ nhà Tâm lý học Mĩ Jerome D. Frank (1910-2005)518. Evolutionary developmental psychology: Tâm lý học phát triển tiến hoá

Sự áp dụng các nguyên lí cơ bản của thuyết tiến hoá Darwin, nhất là thuyết chọn lọc tự nhiên, để giải thích sự phát triển của con người đương đại. Bao gồm nghiên cứu các cơ chế gien và môi trường nằm bên dưới sự phát triển phổ quát của các năng lực xã hội và nhận thức và các tiến trình tiến hoá ngoài di truyền (epigenetic) vốn thích nghi những năng lực ấy vào các điều kiện địa phương. Nó giả định rằng không chỉ các hành vi và nhận thức đặc trưng cho người lớn là sản phẩm của những áp lực chọn lọc suốt trong quá trính tiến hoá, mà cả những đặc trưng của hành vi và tâm trí trẻ em cũng thế. [đề xuất vào năm 2002 bởi các nhà Tâm lý học phát triển Mĩ David Bjorklund (1949-) và Anthony D. Pellegrini (1949-)

Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 51) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024