Từ In (2) tới Is

831. Infinite regression (danh): Sự truy hồi bất tận

Một tuyến lập luận trong đó bản thân lời giải thích cho điều gì đó lại đòi hỏi một lời giải thích tương tự, và cứ thế cho đến bất tận. Ví dụ: muốn giải thích khái niệm Ý THỨC vốn giả định sự tồn tại của một HOMUNCULUS (Người nhỏ xíu) bên trong tâm trí đang quan sát trải nghiệm có ý thức, điều ấy lại đòi hỏi có một homunculus khác quan sát tâm trí của homunculus thứ nhất, v.v.

832. Informational influence (danh): Ảnh hưởng thông tin

– Các diễn trình liên cá nhân thách thức sự đúng đắn của niềm tin cá nhân hay sự thích đáng của hành vi cá nhân, từ đó cổ vũ sự thay đổi. Ảnh hưởng như thế có thể xảy ra một cách trực tiếp, như kết quả của truyền thông và thuyết phục, hay gián tiếp, thông qua việc cho cá nhân đối mặt với thông tin và so sánh bản thân với người khác. Cũng gọi là informational social influence (ảnh hưởng xã hội về thông tin).

– Mức độ các phán đoán và ý kiến của một người về một tình huống không rõ ràng, được những người khác chấp nhận là đúng, nghĩa là phản ánh thực tế của tình huống ấy.

833. Information-error technique (danh): Kĩ thuật đo sai lầm thông tin

Một phương pháp gián tiếp đo thái độ gồm một loạt câu hỏi có nhiều lựa chọn về hiểu biết khách quan đối với một đối tượng của sự bày tỏ thái độ. Các câu hỏi được cấu tạo để người được hỏi không dễ biết đáp án đúng, nhưng cho những lựa chọn đáp án gồm các đánh giá tích cực hoặc tiêu cực đối với đối tượng. Chẳng hạn, đo thái độ đối với hình phạt tử hình bao gồm những câu hỏi về con số phần trăm người bị kết án tử hình sai và con số phần trăm sai biệt giữa số trọng tội ở những bang (Hoa Kì) có và không có án tử hình. Qui trình dựa trên giả định rằng người được hỏi sẽ sử dụng thái độ của mình làm cơ sở đoán định, nghĩa là, họ sẽ có xu hướng chọn những đáp án ủng hộ thái độ của mình. Các thái độ được đánh giá bằng cách tính toán con số đáp án tích cực được chọn so với con số đáp án tiêu cực được chọn.

834. Informed consent (danh): Sự đồng ý có hiểu biết

Sự đồng ý tự nguyện tham gia một nghiên cứu hay qui trình trị liệu trên cơ sở người tham gia hoặc người bệnh hiểu rõ bản chất của nó, những lợi ích và nguy cơ có thể có và các phương án thay thế. Được trợ giúp bởi các quyết định của toà án, nguyên lí của sự đồng ý có hiểu biết cung cấp nền tảng cho việc không truy cứu các y lệnh, di huấn của người bệnh, và các đạo luật về cái chết tự nhiên đã được đưa vào luật pháp khắp Hoa Kì.

835. Ingroup bias (danh): Thiên kiến nhóm

Xu hướng ưu ái nhóm của mình, các thành viên, đặc trưng, sản phẩm của nhóm, nhất là khi tham chiếu với các nhóm khác. Sự ưu ái nhóm có xu hướng được phát lộ rõ hơn sự bác bỏ những cái ngoài nhóm, nhưng cả hai xu hướng đều trở nên phát lộ rõ hơn trong những thời kì tiếp xúc liên nhóm. Ở trình độ vùng, văn hoá hay quốc gia, thiên kiến này thường được gọi là ETHNOCENTRISM (tâm thức lấy chủng tộc làm trung tâm). Cũng gọi là ingroup favoritism (Óc ưu ái nhóm).

836. Initiative structure (danh): Cấu trúc khởi xướng

Một chức năng lãnh đạo hữu hiệu liên quan đến việc tổ chức nhóm làm việc, điển hình là đặt ra các tiêu chuẩn và mục tiêu, nhận diện các vai trò và cắt đặt thành viên vào vai trò, triển khai các qui trình thao tác chuẩn, phê phán công việc kém và xác định mối quan hệ giữa lãnh đạo và thuộc cấp.

837. Initiative versus guil (danh): Sự khởi xướng đối lập với tội lỗi

Giai đoạn thứ ba trong Tám Giai đoạn phát triển theo Erik Erikson, xảy ra từ 3 đến 5 tuổi. Trung tâm là cảm thức của trẻ về sự tự do trong hoạch định, tung ra và khởi xướng mọi hình thức huyễn tưởng, trò chơi và các hoạt động khác. Nếu giải pháp trong hai giai đoạn trước không thành công, hay nếu đứa trẻ bị thường hằng phê phán hay hạ nhục, thì tội lỗi và cảm thức bơ vơ lạc lõng sẽ phát triển thay cho tinh thần khởi xướng.

838. Injunctive norms (danh): (Các) Chuẩn mực huấn thị

Các tiêu chuẩn đồng thuận xã hội được xác định (SOCIAL NORMS) mô tả cách thức người ta nên hành động, cảm nhận và suy nghĩ trong một tình huống nhất định, không phụ thuộc vào cách thức người ta thường đáp ứng trong khung cảnh như thế. Các cá nhân vi phạm những tiêu chuẩn ấy thường bị phán xét một cách tiêu cực. Cũng gọi là prescriptive norms (qui chuẩn).

839. Inner-directed (tính): Có chủ kiến

Mô tả hay liên quan đến một cá nhân có động lực tự thân và không dễ bị ảnh hưởng bởi các ý kiến, giá trị hay sức ép của người khác. Được nhà Tâm lý học Mĩ David Riesman (1909-2002) đưa vào.

840. Input-output mechanism (danh): Cơ chế đầu vào-đầu ra

Một mẫu xử lí thông tin đơn giản trong đó một dữ liệu được đưa vào tự động sinh ra một thành quả nhất định. Một cơ chế đầu vào-đầu ra là một hệ thống khép kín trong đó thông tin được xử lí theo một chuỗi cố định các thao tác đặt định sẵn và không có sự tương tác với môi trường trong suốt diễn trình. Một số lí thuyết hành vi đã bị phê phán là qui giản cơ thể con người thành một cơ chế đầu vào-đầu ra.

841. Insecure attachment: (sự) Ràng buộc không an toàn

Một trong nhiều mẫu quan hệ cha mẹ-con cái nhìn chung là tiêu cực, trong đó đứa con mất tự tin khi có mặt cha mẹ, đôi khi thể hiện trầm cảm khi cha mẹ rời đi, và phản ứng khi cha mẹ quay lại bằng cách né tránh.

842. Insightful learning: Phương pháp học thấu hiểu

Một hình thức học mang tính thức nhận (nhận thức), liên quan đến việc tái sắp xếp hay tái cấu trúc các yếu tố của vấn đề để đạt được sự hiểu vấn đề và đi đến một giải pháp. Phương pháp học thấu hiểu được Wolfgang Kohler mô tả trong những năm 1920, dựa trên quan sát loài linh trưởng xếp chồng các hộp hay sử dụng que để lấy đồ ăn, và được đưa ra như một lựa chọn thay thế cho việc học dựa trên điều kiện hoá.

843. Instance theory: Thuyết ví dụ

Giả thuyết cho rằng việc phân nhóm phụ thuộc vào những ví dụ cụ thể được nhớ đến của loại hình, đối lập với một nguyên mẫu trừu tượng hay một qui tắc dựa vào một đặc điểm nổi bật vốn xác định tư cách thành viên của loại hình. Thuyết ví dụ cũng được áp dụng cho những câu hỏi về chú ý, thu nhận kĩ năng, và quyết định xã hội, giữa những vấn đề khác. Các thuyết ví dụ về định kiến chẳng hạn, cho rằng mẫu rập khuôn (stereotype) không chỉ là sự trừu tượng hoá những đặc trưng điển hình của các thành viên của một nhóm cụ thể, mà dựa trên những kí ức của người tri nhận về những thành viên cá nhân cụ thể của nhóm. Cũng gọi là exemplar theory .

844. Instrumental behavior: Hành vi công cụ

– Hành vi được học và khơi gợi qua sự củng cố tích cực hay tiêu cực những đáp ứng đích (target responses) hơn là những đáp ứng bản năng. Thuật ngữ được dùng đồng nghĩa với operant behavior (hành vi tác động) thường là để mô tả hành vi trong những qui trình điều kiện hoá liên quan đến các chuỗi hoạt động kéo dài, như thể mở một hộp bí mật với lời giải cần thiết (puzzle box).

– Các hành động trực tiếp tác động hay điều khiển hành vi của những người khác.

845. Instrumentalism: Thuyết công cụ

– (trong triết học của khoa học) Quan điểm cho rằng các lí thuyết không phải được coi là đúng hay sai, mà là những công cụ giải thích cho phép quan sát cái thế giới cần được sắp xếp một cách có ý nghĩa. Quan điểm này liên hệ với Thuyết Thực chứng của Ernst Mach (Machian Positivism)

– Một thuyết về kiến thức nhấn mạnh giá trị thực dụng hơn là giá trị đúng thực của các ý tưởng. Theo quan điểm này, giá trị của một ý tưởng, khái niệm hay phán xét nằm ở khả năng giải thích, tiên đoán và kiểm soát các tương tác chức năng cụ thể với thế giới trải nghiệm. Quan điểm này liên hệ với thuyết Thực dụng (Pragmatism) do John Dewey phát triển.

846. Instrumentality theory: Thuyết công cụ tính

Thuyết cho rằng thái độ của một người đối với một sự kiện phụ thuộc vào tri kiến của người ấy về chức năng của sự kiện với tư cách một công cụ đem đến những hậu quả mong muốn hay không mong muốn.

847. Integrated personality: Nhân cách thống nhất

Một nhân cách trong đó các nét cấu thành, các mẫu ứng xử, các động lực… được sử dụng một cách hữu hiệu với cố gắng tối thiểu hay không có sự xung đột. Những người có nhân cách thống nhất được cho là tự biết mình và có thể vui hưởng cuộc sống một cách đầy đủ. Cũng gọi là well-integrated personality.

848. Integrative behavioral couples therapy: Liệu pháp lứa đôi ứng xử hợp nhất

Liệu pháp lứa đôi sử dụng các kĩ thuật của Liệu pháp Lứa đôi Ứng xử nhưng cũng tập trung chú ý vào tình cảm chấp nhận của mỗi người đối với những sự không tương thích của người kia vốn có thể hay không thể dễ làm cho thay đổi. Nó dựa vào niềm tin rằng việc tập trung chú ý vào thay đổi những cái không tương thích sẽ dẫn tới sự kháng cự thay đổi khi có thể thay đổi, hay dẫn đến sự thất vọng không cần thiết cho cả hai khi sự thay đổi là không thể.

849. Integrative complexity: Tính phức hợp tích hợp

Mức độ một đối tượng của thái độ (attitude object) được nhìn như có cả những đặc điểm tích cực lẫn tiêu cực và mức độ những đặc điểm ấy được nhìn như có liên quan đến nhau. Tính phức hợp tích hợp thấp xảy ra khi một đối tượng của thái độ được nhìn một cách đặc biệt tích cực hay tiêu cực. Tính phức hợp tích hợp trung bình xảy ra khi đối tượng được nhìn như có cả các đặc điểm tích cực lẫn tiêu cực, nhưng những đặc điểm này được nhìn như ít liên quan với nhau. Tính phức hợp tích hợp cao xảy ra khi các đặc điểm tích cực và tiêu cực được nhìn như có liên quan với nhau.

850. Integrity versus despair: (sự) Viên mãn đối lập với tuyệt vọng

Giai đoạn thứ tám, và cuối cùng, của Tám Giai đoạn Phát triển của Erik Erikson, xảy ra trong tuổi già. Trong giai đoạn này, cá nhân phản tư về cuộc đời mình đã sống và có thể phát triển sự viên mãn – thoả mãn vì đã sống một cuộc đời tốt lành và có thể đến gần cái chết với sự thư thái, hay nỗi tuyệt vọng – cảm thức cay đắng về những cơ hội bị mất và thời gian lãng phí, và một nỗi sợ hãi tiến đến cái chết. Cũng gọi là ego integrity versus despair .

851. Intellectualism : Thuyết duy trí

– (trong triết học) Quan điểm nhất quán với Idealism (Thuyết Duy tâm) hay Rationalism (Thuyết Duy lí), nhấn mạnh sự tiên quyết của tâm trí hay ý tưởng.

– (trong Tâm lý học) Học thuyết cho rằng các chức năng thức nhận (nhận thức) là tiên quyết, các trạng thái trải nghiệm về tình cảm và động lực có thể được giải thích bằng hay bắt nguồn từ các trạng thái nhận thức căn bản.

– (trong ngôn ngữ thông tục) Xu hướng đặt quá cao giá trị hoặc sự phụ thuộc vào trí tuệ.

852. Intensive psychotherapy: Liệu pháp tâm lí tăng cường

Sự chữa trị tâm lí mở rộng, thấu đáo và kéo dài đối với những quan tâm và vấn đề của một cá nhân. Tính “tăng cường” chỉ ra cả bản chất của các cuộc thảo luận – liên quan đặc biệt đến việc xem xét mở rộng lịch sử cuộc đời và những xung đột của cá nhân, lẫn thời gian chữa trị.

853. Intentional behavior (behaviour): Hành vi chủ định

Hành vi có mục đích trong đó cá nhân sử dụng các chiến lược để đạt được những mục tiêu hay hiệu quả khác nhau. Theo Thuyết Jean Piaget về sự Phát triển nhận thức, hành vi chủ định xuất hiện ở trẻ từ 8 đến 12 tháng tuổi.

854. Interbehavioral psychology : Tâm lý học liên ứng

Một hệ thống Tâm lý học quan tâm đến những tương tác giữa một động vật với môi trường. Tập trung chú ý vào sự tương tác giữa các chức năng kích thích (việc sử dụng hay vai trò của một kích thích) và các chức năng đáp ứng (mục đích mà đáp ứng phục vụ) và cách thức mà hoàn cảnh và trải nghiệm định dạng cho những tương tác ấy. Do nhà Tâm lý học Mĩ Jacob Robert Kantor (1888-1984) đề xướng. Cũng gọi là interbehaviorism (thuyết liên ứng).

855. Interdependent self-construal : (sự) Tự thức tương thuộc

Một quan điểm về bản thân nhấn mạnh sự gắn sâu vào một mạng lưới quan hệ xã hội và đánh giá thấp những nét riêng hay hay thành tích độc đáo của mình.

856. Interference theory : Thuyết giao thoa (nhiễu)

Giả thuyết cho rằng sự lãng quên là do cạnh tranh của một sự học hay của những kí ức khác. Giao thoa (nhiễu) có thể từ thông tin thu nhận được trước đó (proactive interference: giao thoa tác động tới) hay thông tin đưa ra sau khi kí ức đích đã thu nhận được (retroactive interference: giao thoa tác động lui).

857. Intergroup dynamics: Động học liên nhóm

Các diễn trình động hơn là tĩnh ảnh hưởng đến những quan hệ luôn biến đổi giữa các nhóm, trong đó có sự định khuôn, cạnh tranh, xung đột giữa các nhóm và thiên kiến nhóm.

857. Internal object: Đối tượng nội tâm

Một hình ảnh hay biểu trưng của một người (đặc biệt là người có ý nghĩa đối với cá nhân, như cha, mẹ) được trải nghiệm như một hiện diện nội tâm hoá trong tâm trí. Trong Thuyết Quan hệ đối tượng (Object Relations Theory), Melanie Klein thấy cái tâm của con người được làm bởi những đối tượng nội tâm, các quan hệ giữa chúng với nhau và giữa chúng với cá nhân xác định nhân cách và các triệu chứng cùa cá nhân ấy.

858. Interpersonal concordance: (sự) Hoà hợp liên cá nhân

(trong Thuyết Phát triển đạo lí (Theory of Moral Development) của Kohlberg) Giai đoạn thứ nhất trong hai giai đoạn của trình độ qui ước (conventional level), trong đó xuất hiện ý tưởng động cơ và chủ định nằm bên dưới, và hành vi đạo đức là hành vi được tán thành. Cũng gọi là good-boy-good-girl stage (giai đoạn trai tốt gái lành), good-boy-nice-girl orientation (định hướng trai tốt gái lành).

859. Interpersonal intelligence: Trí khôn liên cá nhân

Trong Thuyết Nhiều dạng trí khôn (Multiple-Intelligence Theory) Trí khôn liên quan đến việc hiểu và quan hệ với người khác. Trí khôn liên cá nhân được cho là tương đối độc lập với những dạng trí khôn khác (như trí khôn logic toán, trí khôn ngôn ngữ…) được nêu lên trong thuyết nói trên.

860. Interpersonal psychotherapy (IPT): Liệu pháp tâm lí liên cá nhân

Một hình thức liệu pháp tâm lí, nguyên dựa trên Thuyết Liên cá nhân (Interpersonal Theory) của nhà tâm thần học Mĩ Harry Stack Sullivan (1892-1949), cho rằng các mối quan hệ với người khác tạo nên lực nguyên thuỷ tạo động lực cho hành vi của con người. Đặc điểm nổi bật trung tâm của IPT là làm sáng tỏ các mối quan hệ của người bệnh với những người khác trong đó có người chữa trị. Người chữa trị giúp người bệnh thăm dò chi tiết các trải nghiệm quá khứ và hiện tại, không chỉ liên quan đến phản ứng liên cá nhân mà cả những ảnh hưởng của môi trường nói chung đối với suy nghĩ và hành vi thích nghi và không thích nghi của cá nhân.

861. Interpersonal theory: Thuyết liên cá nhân

(trong Phân tâm học) Thuyết về nhân cách được nhà phân tâm học Mĩ Harry Stack Sullivan (1982-1949) phát triển, dựa trên niềm tin rằng các tương tác của một người với người khác, đặc biệt với những người có ý nghĩa, xác định tinh thần an toàn, ý thức về bản thân, và động lực của hành vi của mình. Theo Sullivan, nhân cách là sản phẩm của một loạt giai đoạn kéo dài trong đó cá nhân từng nấc phát triển “cảm nhận tốt lành” về người khác và một tinh thần tốt lành đối với chính mình. Cá nhân cũng học cách phòng tránh lo âu và sửa những tri kiến sai lầm về người khác, học cách xác minh các ý nghĩ của mình thông qua việc xác nhận hiệu lực đồng thuận (consensus validation); và trên hết, tìm cách đạt được những quan hệ liên cá nhân hữu hiệu ở một trình độ chín chắn.

862. Interpretive therapy: Liệu pháp diễn giải

Bất kì hình thức liệu pháp chủ động, trực tiếp nào, trong đó người chữa trị gợi ra các xung đột, đè nén, mơ tưởng và kháng cự của người bệnh, rồi diễn giải hay giải thích chúng cho người bệnh dưới ánh sáng những trải nghiệm của người ấy.

863. Intersubjectivity: Tính liên chủ quan

– Sự giao tiếp thiện cảm: năng lực chia sẻ trải nghiệm, chẳng hạn qua cái nhìn giữa trẻ nhỏ với người chăm sóc.

– Một quan điểm triết học cho rằng mọi sự kiện công cộng, khách quan thực ra là những trải nghiệm chủ quan được chia sẻ.

864. Interval reinforcement: (sự) Củng cố cách quãng

Sự củng cố đáp ứng đầu tiên đối với một kích thích sau một quãng cách định trước. Sự củng cố có thể được lặp lại theo các quãng cách đều nhau hay thay đổi. Cũng gọi là interval-reinforcement schedule (tiến độ củng cố cách quãng).

865. Intervention: (sự) Can thiệp

– Hành động của nhà chữa trị đối phó với những vấn đề của người bệnh. Sự chọn lựa các can thiệp được chỉ dẫn bởi bản chất của vấn đề, định hướng của người chữa trị, khung cảnh và ý chí và năng lực của người bệnh để tiến hành việc chữa trị. Cũng gọi là psychological intervention (can thiệp tâm lí).

866. Interview group psychotherapy: Liệu pháp tâm lí phỏng vấn nhóm

Một kiểu liệu pháp tâm lí nhóm cho thiếu niên và người lớn. Một nhóm trị liệu cân bằng được chọn trên cơ sở những vấn đề phổ thông và các đặc trưng cá nhân; người tham dự được khuyến khích bộc lộ các thái độ, triệu chứng và cảm nhận của mình. Được nhà tâm lí trị liệu Mĩ gốc Nga TK 20 Samuel Richard Slavson phát triển.

867. Intimacy versus isolation: (sự) Thân mật đối nghịch với cô lập

Giai đoạn thứ sáu trong Tám giai đoạn phát triển theo Erikson, kéo dài từ cuối tuổi thiếu niên qua thời kì tìm hiểu lứa đôi và đầu đời sống gia đình đến đầu tuổi trung niên. Trong giai đoạn này, cá nhân phải học cách chia sẻ và quan tâm mà không đánh mất chính mình; nếu thất bại, họ sẽ cảm thấy đơn độc và bị cô lập. Việc phát triển một căn tính gắn kết trong giai đoạn trước đó cung cấp cơ hội để đạt được sự thân mật thật sự, nhưng sự phát triển phân tán sẽ khiến cho cá nhân khó đạt được thành quả tích cực ở giai đoạn này.

868. Intimate zone: Vùng thân mật

(trong Tâm lý học xã hội) Vùng ít xa cách của những người có các mối quan hệ rất gần, như giữa mẹ và con. Khác với personal distance zone (vùng giãn cách cá nhân) là vùng giãn cách được qui ước bởi những người tương tác với bạn bè và người quen (khoảng 0,5 đến 1,5m); public distance zone (vùng gian cách công cộng 3,5 đến 7,5m); social zone (vùng giãn cách xã hội) giữa các mối quan hệ có bản chất tương đối nghi thức như giữa luật sư và thân chủ (1,25 đến 3,5m).

869. Intraindividual differences: (các) Khác biệt nội cá nhân

Những sự khác nhau giữa hai hay nhiều nét đặc điểm, hành vi hay đặc trưng của một con người. Chẳng hạn, một số đo nghiệm về năng lực cho thấy những khác biệt trong ba lĩnh vực toán, ngôn ngữ và phân tích.

870. Intrarole conflict: (sự) Xung đột trong một vai trò

Dạng xung đột vai trò do sự không tương thích giữa các hành vi và sự trông đợi đối với một vai trò. Những sự không nhất quán này có thể là kết quả từ bản thân tính phức hợp nội tại của vai trò, hay sự thiếu đồng thuận của nhóm trong việc xác định vai trò và các yêu cầu của nó. Khác với Interrole conflict (xung đột giữa các vai trò).

871. Intrinsic motivation: Động lực nội tại

Động cơ thúc đẩy người ta dấn thân vào một hoạt động chuyên biệt, xuất phát từ bản thân hoạt động ấy (như hứng thú học một môn học nào đó của một học sinh) hơn là vì những lợi lộc bên ngoài có thể có được (như bằng cấp). Khác với extrinsic reward (Phần thưởng từ bên ngoài).

872. Introjection: (sự) Tiếp nhập

– Một diễn trình trong đó cá nhân sáp nhập một cách vô thức các khía cạnh của thực tại ở bên ngoài vào trong cái bản ngã, đặc biệt là những thái độ, giá trị và phẩm tính của một người khác hay một phần nhân cách của một người khác. Sự tiếp nhập có thể xảy ra chẳng hạn như trong diễn trình thương khóc một người thân yêu.

– [trong Thuyết Phân tâm] Diễn trình nội tâm hoá các tính chất của một Vật bên ngoài (External Object) dưới hình thức một Vật nội tâm (Internal Object) hay một Biểu trưng tâm trí (Mental Representation) có ảnh hưởng đến hành vi. Diễn trình này được coi là một phần thông thường của sự phát triển, như khi sự tiếp nhập các giá trị và thái độ của cha mẹ hình thành Cái Siêu ngã (Superego), nhưng cũng có thể được sử dụng như một Cơ chế phòng vệ (Defense Mechanism) trong các tình huống gây nên nỗi lo âu. Khác với Identification (Đồng nhất hoá), Incorporation (Sáp nhập).

873. Introjective personality: Nhân cách tiếp nhập

[theo một số Thuyết Phân tâm học] Một đường lối phát triển nhân cách tập trung chú ý vào thành tựu và sự đánh giá, và – nếu nhân cách không phát triển được một cách đúng đắn – có thể sẽ đi đến những cảm thức về sự vô giá trị, thất bại, và tự phê phán một cách tâm bệnh.

874. Introspectionism: Thuyết nội quan

Học thuyết chủ trương phương pháp điều tra tâm lí cơ bản là hoặc nên là nội quan. Trong lịch sử, một cách tiếp cận như thế liên kết với trường phái Cấu trúc luận tâm lí (Psycholigical Structuralism).

875. Introversion-extraversion: (sự) Hướng nội-hướng ngoại

Tầm mức tự định hướng từ chỗ hướng nội, đặc trưng là những mối quan tâm và hành vi hướng nội và do bản thân điều khiển, đến hướng ngoại, đặc trưng là những mối quan tâm và hành vi hướng ngoại và do xã hội điều khiển. Khái niệm bắt nguồn từ Carl Jung nhằm nghiên cứu các kiểu nhân cách.

876. Intrusive thoughts: (các) Ý nghĩ xâm nhập

Những sự cố ngắt dòng suy nghĩ liên quan đến nhiệm vụ đang tiến hành, bất chấp những cố gắng để tránh khỏi chúng. Là một phương diện phổ biến của những rối loạn như căng thẳng hậu chấn thương tâm lí (post-traumatism stress)rối loạn ám ảnh-thúc bách (obsession-compulsive disorder). Cũng gọi là TUITs (task-unrelated images and thoughts – Các hình ảnh và ý nghĩ không liên quan đến nhiệm vụ).

877. Intuitionism: Thuyết/ Xu hướng trực giác

– Niềm tin rằng kiến thức có được đầu tiên là nhờ trực giác.

– Xu hướng của những người ưa suy nghĩ, lí luận và nhớ bằng cách xử lí những biểu trưng không chính xác trong trí nhớ hơn là làm việc một cách logic hay từ những biểu trưng chính xác. [Đề xướng bởi các nhà Tâm lý học Mĩ Charles Brainerd (1944-) và Valerie Reyna (1955-)].

878. Intuitive stage: Giai đoạn trực giác

[trong Thuyết Phát triển thức nhận (nhận thức) của Jean Piaget] Thời kì nằm trong giai đoạn tiền thao tác (preoccupational stage), từ khoảng 4 đến 7 tuổi, trong đó trẻ có thể suy nghĩ theo các phạm trù và làm việc với những khái niệm về số, mặc dù tư duy bị thống trị bởi giác tri (tri giác).

879. Intuitive type: Kiểu trực giác

[trong Tâm lí học Phân tích của Carl Jung] Kiểu chức năng có đặc trưng là năng lực thích nghi “bằng những chỉ dẫn vô thức” và “một giác tri (tri giác) tinh tế và sắc bén và sự diễn giải những kích thích hơi có ý thức”. Kiểu trực giác là một trong hai kiểu phi lí tính (irrational types) của Jung, kiểu kia là kiểu giác cảm (cảm giác) (sensation type). Tham khảo: feeling type (kiểu cảm tính), thinking type (kiểu tư duy).

880. Inventory test: Đo nghiệm theo danh mục

– [trong việc đánh giá giáo dục] Một kiểu đo nghiệm thành tích chứa đựng những câu hỏi về những địa hạt kiến thức quan trọng nhằm có được cái nhìn tổng quát hay phác hoạ thành tích của cá nhân.

– [trong việc nghiên cứu nhân cách] Một đo nghiệm nhằm cung cấp cái nhìn rộng về các mẫu nhân cách trong những địa hạt khác nhau.

881. In vivo desensitization: (sự) Giải nhạy cảm trong khung cảnh sống

Một kĩ thuật sử dụng trong Liệu pháp hành vi (Behaviour/ Behavior Therapy), thường để giảm hay trừ bỏ chứng ám sợ (phobias), trong đó người bệnh được đối mặt với những kích thích gây lo âu. Người chữa trị thảo luận với người bệnh, tạo ra những sự kiện gợi lo âu nhiều cấp bậc hay những tiết mục liên quan đến kích thích gây lo âu hay chứng ám sợ. Sau đó người bệnh được đối mặt với kích thích thực hơn là được yêu cầu tưởng tượng ra nó. Thành công phụ thuộc vào việc người bệnh vượt qua được nỗi lo âu khi gặp những sự kiện hay tiết mục nói trên. [Được phát triển lần đầu tiên bởi nhà Tâm lý học Mĩ Mary Cover Jones (1896-1987)].

882. Involved grandparent: Ông/Bà can dự sâu

Kiểu ông/bà có mối quan hệ yêu thương nồng ấm với cháu nội/ngoại và chăm lo hằng ngày cho cháu như đưa đón đi học, săn sóc ngoài giờ học, lo về tài chính. Khác với kiểu companionate grandparent (ông/bà đồng hành: yêu thương, quan tâm nhưng không chăm sóc hằng ngày*)* và remote grandparent (Ông/bà xa cách).

883. IQ: Chỉ số trí khôn

Một cách đo trình độ trí khôn (trí thông minh) của cá nhân dựa trên các đo nghiệm tâm lí. Trong thời kì đầu, IQ được đo bằng cách chia tuổi tâm trí (mental age) cho tuổi đời (chronological age) rồi nhân với 100 để có ratio IQ (IQ tỉ suất). Khái niệm này giờ đây phần lớn được thay bằng deviation IQ (IQ chênh lệch) là một hàm chênh lệch của điểm số cá nhân với điểm số trung bình, điểm số trung bình là 100 và độ chênh lệch chuẩn là +15 hoặc -15 so với điểm số trung bình. Kết quả cho thấy khoảng 2/3 dân số có điểm giữa 85 và 115; 2,5% trên 130 và dưới 70.

Một số đo nghiệm cho những điểm số chuyên biệt hơn, như verbal IQ (trí khôn ngôn ngữ), performance IQ (trí khôn thực hiện). Những dữ kiện bổ sung được rút ra từ các đo nghiệm IQ như tốc độ thực hiện, phẩm chất không đãng trí, sự hiểu ngôn từ và tổ chức gíác tri (tri giác).

Có những người phê phán về khiếm khuyết của khái niệm IQ và những cách đo trí khôn khác. Họ chỉ ra rằng đo nghiệm IQ là đo đạc những kĩ năng và kiến thức đã học được hơn là đo khả năng bẩm sinh nằm bên dưới, và nhiều người tham dự chỉ đơn giản là không quen ngồi yên và tuân theo các mệnh lệnh (những điều kiện mà phần lớn đo nghiệm đòi hỏi), mặc dù họ vận hành tốt trong thực tế. Các nhà phê bình cũng nói đến những trường hợp trình bày sai các thực kiện trong lịch sử nghiên cứu IQ. Tuy nhiên, những vấn đề ấy dường như áp dụng vào sự diễn giải các điểm số IQ hơn là hiệu lực của bản thân các điểm số.

884. Irradiation theory of learning: Thuyết học bức xạ

Thuyết cho rằng mỗi kích thích khởi động một tổ chức tế bào chuyên biệt trong não, và sự khởi động ấy lan truyền (bức xạ). Hai kích thích trở nên liên kết khi các địa hạt khởi động của chúng chồng nhau. Sự bức xạ được giả thuyết là cơ sở thần kinh của việc điều kiện hoá kinh điển của Ivan Pavlov.

885. Irrational type: Kiểu phi lí tính

[trong Tâm lí học Phân tích của Carl Jung] Một trong hai loại hình chủ yếu của kiểu chức năng (functional type), bao gồm kiểu trực giác (intuitive type) và kiểu giác cảm (cảm giác) (sensation type). Khác với kiểu lí tính (rational type).

886. Isolated explosive disorder: Rối loạn bùng nổ đơn lẻ

Một rối loạn về kiểm soát xung động (impulse-control disorder) có đặc trưng là một thời kì đơn lẻ trong đó cá nhân phạm phải hành động bạo lực gây tai hoạ như bắn vào người lạ trong cơn giận dữ bất thần. Thời kì này không hề tỉ lệ với bất kì trạng thái căng thẳng dồn ép nào, không phải do bất kì rối loạn tâm trí nào khác hay do một điều kiện y tế chung nào, và không do thứ vật chất nào gây ra. Cũng gọi là catathymic crisis (khủng hoảng vô thức). Khác với intermittent explosive disorder (rối loạn bùng nổ cách quãng).

Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 72) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024