Từ Ic tới Id

737. Iceberg principle: Nguyên lí núi băng trôi

Nguyên lí cho rằng những lí do hay sự giải thích quan sát được cho một hành vi hay ý kiến là không đầy đủ. Nhiều cái thực sự nằm bên dưới bề mặt, đòi hỏi những cuộc phỏng vấn mở rộng hay các kĩ thuật nghiên cứu để khám phá.

738. Id: Cái ấy

(trong phân tâm học) Một trong ba thành tố của bộ máy tâm trí con người, do Sigmund Freud phát biểu sau khi thay thế bình đồ vô thức (unconscious)-tiền thức (preconscious)-ý thức (conscious) bằng hình mẫu cấu trúc id (cái ấy)-ego (cái tôi/ngã)-superego (cái siêu tôi/siêu ngã) vào năm 1920. Đó là cái bình chứa năng lượng từ bản năng bị nguyên lí khoái lạc chỉ huy, nội dung của nó là vô thức, một thứ hiện hữu bẩm sinh, và những cái khác từ trải nghiệm bị dồn nén vùi lấp, luôn xung đột với cái tôi và siêu tôi – hai cái bắt nguồn từ cái Id trong quá trình phát triển. Freud dùng từ tiếng Đức das Es (the It) vào năm 1923 trong sách Das Ich und das Es (được dịch thành tiếng Anh là The Ego and the Id), trong đó ông nói rằng ông mượn thuật ngữ này từ nhà Tâm lý học Đức Georg Groddeck (1866-1934) nhưng sau đó lại gán nó cho triết gia Đức Friedrich Wilhem Nietsche (1844-1900). Dịch giả James Stratchey (1887-1967) chọn từ Id để gợi ý điều tối tăm mà từ gốc tiếng Đức không tả được hết. Cái Id tách biệt khỏi cái tiền thức và ý thức do kiểm duyệt, nhưng không đồng nghĩa với cái vô thức, vì các chức năng của cái tôi và nhiều chức năng của cái siêu tôi cũng là vô thức. Các chức năng của cái Id được chỉ huy bởi diễn trình sơ cấp.

739. Idification with the agressor: (sự) Đồng nhất với kẻ xâm hấn

(trong phân tâm học) Cơ chế phòng vệ lần đầu được đặt tên và mô tả vào năm 1936/7 bởi nhà Tâm lý học người Anh gốc Áo Anna Freud (1895-1982) trong sách the Ego and the Mechanism of Defence (cái Tôi và cơ chế phòng vệ) của bà, trong đó một người đứng trước sự đe doạ bên ngoài, như sự phản đối hoặc phê phán của một gương mặt có quyền, bèn đồng nhất mình với nguồn đe doạ, chấp nhận sự xâm hấn hoặc noi theo những thuộc tính khác của kẻ xâm hấn. Điều này đã được quan sát trong những trường hợp bị bắt cóc (hội chứng Stockholm) hay những tình thế cực đoan khác như trong các trại tập trung. Trong phân tâm học, nó xảy ra ở trình độ phát triển khi đứa con trai đồng nhất mình với đối thủ là người cha, ở cuối kỳ Oedipe.

740. Identity crisis: Khủng hoảng căn tính

Trạng thái lúng túng do không thể hoà giải những khía cạnh xung đột trong nhân cách của bản thân. Khái niệm được phổ biến bởi nhà Tâm lý học chuyên về Cái Tôi Erik H. Erikson (1902-94) người Mỹ gốc Đức trong cuốn sách Identity: Youth and Conflicts (Căn tính: Tuổi trẻ và các xung đột) (1968).

741. Idiot savant: Nhà thông thái ngốc nghếch

Một người thiểu năng về trí tuệ nhưng có thể thể hiện trình độ cao trong một lĩnh vực hạn hẹp nào đó về vận hành trí tuệ, như nhớ được khối thông tin lớn, trình diễn âm nhạc hay nghệ thuật, tính toán ngày tháng trong quá khứ hay tương lai.

742. Ill-defined problem: Vấn đề khó xác định

(trong nghiên cứu về giải quyết vấn đề) Bất kì vấn đề nào trong đó chỗ khởi sự vấn đề, các thao tác được phép, và tình trạng của mục tiêu không được chuyên biệt hoá rõ ràng, hoặc không thấy được sự tồn tại một giải pháp duy nhất. Một ví dụ tiêu biểu là vấn đề dân số quá đông. Cũng gọi là ill-structured problem (vấn đề được cấu trúc tồi).

743. Illness anxiety disorder: Rối loạn lo bệnh tật

Thuật ngữ chỉ rối loạn có đặc trưng là mối bận tâm rõ rệt quá mức, kéo dài trong ít nhất 6 tháng, về khả năng có hay mắc một bệnh nặng, với những triệu chứng nhẹ hay tối thiểu về cơ thể (phân biệt với somatic symtom disorder: rối loạn triệu chứng cơ thể), lo âu thái quá về sức khoẻ, và những hoạt động cực đoan về sức khoẻ như thường xuyên kiểm tra các triệu chứng hoặc ngược lại, sợ sệt tránh trớ khám sức khoẻ y tế.

744. Illusion: Giả giác/ Ảo tưởng

Theo định nghĩa hẹp, là giác tri (tri giác) sai (giả giác) hay quan niệm sai (ảo tưởng) về một vật, một hình ảnh, sự kiện, trải nghiệm hay vấn đề kích thích, hay để chỉ một kích thích sinh ra một tri giác sai hay một quan niệm sai; nói tổng quát, là bất kì kích thích nào làm sai lạc, lừa dối hay rối rắm tâm trí, hay là trải nghiệm do kích thích ấy sinh ra. Các giả giác có thể xuất hiện thông qua bất kì phương thức cảm quan nào, nhưng nổi bật nhất là các giả thính giác, giả xúc giác và trên hết là giả thị giác. Các ảo tưởng (về quan niệm) gọi là cognitive illusions (ảo tưởng về nhận thức). Các ảo tưởng về nhận diện và kí ức như hội chứng Capgras, déjà vu, và những chứng loạn trí nhớ (paramnesia) khác cũng thường được gọi là illusions nhưng bị tránh dùng trong các văn bản cẩn trọng.

745. Illusion of control: Ảo tưởng kiểm soát

Niềm tin rằng mình có sự kiểm soát các sự kiện thực ra là do cơ may quyết định. Chẳng hạn, chọn một con số “hên” (may mắn) khi mua xổ số hay cố gắng gieo xúc sắc theo cách nào đó khi chơi bài bạc. Nhà Tâm lý học người Anh Susan J. Blackmore (1951-) và một đồng nghiệp vào năm 1985 đã cung cấp bằng chứng cho thấy điều này xảy ra đặc biệt ở những người quá tin vào giác tri (tri giác) ngoại cảm. Khái niệm ảo tưởng kiểm soát được đưa vào và đặt tên vào năm 1975 trong một bài viết của nhà Tâm lý học Mĩ Ellen J. Langer (1947-) trên Journal of Personality and Social Psychology (Tập san Nhân cách và Tâm lý học Xã hội), bà cũng là người đầu tiên nghiên cứu hiện tượng này trong thực nghiệm. Nghiên cứu của Langer và những người khác gợi ý rằng nó xảy ra thường nhất trong những tình huống tương tự những công việc đòi hỏi kĩ năng, có vẻ quen thuộc, cho phép sự tự do lựa chọn, liên quan đến việc cạnh tranh với người có vẻ không có năng lực, bao gồm việc biết trước kết quả mong muốn và nhấn mạnh tầm quan trọng của thành công. Cũng có bằng chứng cho thấy tâm trạng đau buồn trầm cảm sẽ làm giảm ảo tưởng kiểm soát.

746. Illusory correlation: Giả tương liên

Một sự tương liên biểu kiến nhưng không thực sự tồn tại trong dữ kiện được thẩm định. Trong chứng minh kinh điển về ảo tưởng vào năm 1957, các nhà Tâm lý học người Mĩ Loren James Chapman (1927-) và Jean Chapman (1929-) đã trình bày với các thầy thuốc có kinh nghiệm và sinh viên thông tin về một số người mắc tâm bệnh – mỗi người bệnh có các lời chẩn đoán bệnh và một bức hoạ do người bệnh vẽ một nhân vật. Sau đó các thầy thuốc và sinh viên ước lượng theo trí nhớ tần suất liên kết của những chẩn đoán (chẳng hạn: Người vẽ bức hoạ này nghi ngờ người khác) với các đặc trưng cụ thể của bức hoạ (chẳng hạn: những con mắt kì dị trong bức hoạ). Cả hai nhóm thẩm định đều đánh giá quá mức những sự trùng hợp khớp với các lí thuyết về nhân cách tiềm ẩn trong họ, và ảo tưởng này cực kì khó thay đổi, kể cả khi không hề có sự tương liên thật sự. Chẳng hạn, 91% số thầy thuốc có kinh nghiệm và 58% số sinh viên báo cáo rằng những con mắt kì dị liên kết với sự nghi ngờ, 80% thầy thuốc và 76% sinh viên báo cáo rằng những bờ vai rộng liên kết với sự lo lắng về nam tính. Các ảo tưởng giúp chống đỡ sự mê tín và định kiến, và thường được giải thích bằng sự suy đoán cảm tính sẵn có (available heuristic), sự trùng hợp có vẻ dễ xảy ra thì dễ nhớ hơn những sự trùng hợp khó xảy ra.

747. Imagery: (sự) Tượng hình

Hành động hay diễn trình hình thành các hình ảnh tâm trí mà không có sự kích thích các giác quan, hay các hình ảnh tâm trí được hình thành bởi kí ức và tưởng tượng, bao gồm không chỉ hình ảnh thị giác mà cả các hình ảnh từ những giác quan khác như thính giác, vị giác, khứu giác, xúc giác. Nhà Tâm lý học người Đức Wilhem Max Wundt (1832-1920) tin rằng các hình ảnh là một trong ba yếu tố căn bản của ý thức, cùng với các giác cảm (cảm giác – sensation) và cảm nhận (cảm thức – feeling).

748. Imago: Hình ảnh lí tưởng

(trong phân tâm học) Một hình ảnh lí tưởng của một người khác, như cha mẹ, hay một đối tượng bản năng, thu nhận được trong thời thơ ấu và được duy trì trong vô thức về sau. Khái niệm được đưa vào năm 1911 bởi Carl Gustav Jung (1875-1961), ông tin rằng một số imago phái sinh từ các cổ mẫu hơn là từ trải nghiệm cá nhân, và niềm tin này trở thành một khái niệm then chốt của môn Tâm lý học Phân tích của ông. Trong các bài viết của nhà Tâm lý học người Áo gốc Anh Melanic Klein (1882-1960), đó là bức tranh bị bóp méo một cách kì diệu của một vật thật.

749. Implicit association test: (sự) Đo nghiệm liên tưởng tiềm ẩn

Sự đo nghiệm các thái độ tiềm ẩn bằng cách liên kết đối tượng của thái độ với những từ dễ chịu hay khó chịu. Chẳng hạn, để đo định kiến tiềm ẩn đối với người da đen, người trả lời có thể được cho thấy những hình ảnh người da đen và người da trắng, xen với những từ dễ chịu (như sung sướng, bình an…) và khó chịu (như xấu xí…). Người trả lời được yêu cầu phản ứng nhanh hết mức có thể, khi một hình ảnh người da đen được cặp với một từ khó chịu và khi một hình ảnh người da trắng được cặp với một từ dễ chịu. Sau đó, việc cặp đôi được đảo ngược (người da đen với từ dễ chịu…). Người có thái độ tiềm ẩn không ưa người da đen sẽ phản ứng nhanh hơn ở lần cặp đôi đầu tiên. Đo nghiệm này được phát triển bởi nhà Tâm lý học người Mĩ Anthony Galt Greenwald (1939-) và hai nghiên cứu sinh sau đại học và được công bố trong Journal of Personality and Social Psychology (Tập san Nhân cách và Tâm lý học Xã hội) năm 1988. Cũng gọi là implicit attitude test (đo nghiệm thái độ tiềm ẩn).

750. Implicit learning: (sự) Học ngầm

Sự thu nhận được thông tin chủ yếu không do cố gắng có ý thức hay kiến thức rõ rệt về điều học được. Vế sau của định nghĩa còn bị tranh cãi vì khó đưa bằng chứng. Khái niệm được đưa vào năm 1967 bởi nhà Tâm lý học người Mĩ Arthur S. Reber (1940-) trong một bài viết trên Journal of Verbal Learning and Verbal Behavior (Tập san Học qua ngôn từ và hành vi ngôn từ).

751. Identity diffusion: (sự) Khuếch tán căn tính

– Sự thiếu ổn định hay tập trung trong cái nhìn về bản thân hay trong bất kì yếu tố nào của căn tính cá nhân.

– (trong tác phẩm Ego Psychology (Tâm lý học Cái Tôi) của Erik Erikson) Thành quả có thể có của giai đoạn IDENTITY VERSUS ROLE CONFUSION (Căn tính đối đầu với sự bối rối về vai trò) trong đó cá nhân xuất hiện với một ý thức không chắc chắn về căn tính và bối rối về ước muốn, thái độ và mục tiêu của mình.

752. Identity disorder: (sự) Rối loạn căn tính

Một rối loạn kinh niên, thường vào cuối tuổi thiếu niên, trong đó các cảm thức không chắc chắn và trầm cảm sinh ra bởi những vấn đề căn tính như các mục tiêu dài hạn, định hướng tính dục và hành vi, sự trung thành với nhóm, các giá trị đạo đức, và sự đồng nhất về tôn giáo.

753. Identity foreclosure: (sự) Chấp nhận căn tính được cho

Trong sự phát triển căn tính, là sự chấp nhận không thắc mắc (thường ở thiếu niên) vai trò, các giá trị, và mục tiêu mà người khác (như cha mẹ, bạn thân, thầy giáo, huấn luyện viên…) đã chọn cho mình. Sự cam kết của cá nhân với căn tính được cho xảy ra khi không có sự tìm hiểu giá trị của nó hay không nghiền ngẫm những vai trò có thể lựa chọn mà có thể thích hợp hơn với mình.

754. Identity, negation, reciprocal, and correlative operations: (các) Thao tác nhận diện, phủ định, tương hỗ và tương liên

(trong lí thuyết Jean Piaget về phát triển nhận thức) Nhóm bốn thao tác hình thức logic áp dụng vào những mẩu thông tin mới trước khi biến thành kiến thức. Những thao tác này có thể được minh hoạ bằng việc xem xét một đồng xu và một đồng chinh cả hai có hình đầu người. Thao tác nhận diện (I) không làm cho tình thế thay đổi. Thao tác phủ định (N) tình thế: nếu đồng xu đã được quay mặt ngửa, thì thao tác N lật lại mặt xấp. Thao tác tương hỗ (R) đáp lại thao tác trước đó: nếu thao tác trước quay đồng xu ngửa lên, thì thao tác R sẽ quay đồng chinh ngửa lên. Thao tác tương liên (C) đảo lại thao tác tương hỗ: nếu thao tác R quay đồng xu ngửa lên, thì thao tác C sẽ quay cả hai đồng xu và đồng chinh ngửa lên. Piaget cho rằng những thao tác logic này thực ra là các thao tác thức nhận (nhận thức) mà người có tư duy thao tác hình thức áp dụng để giải quyết các vấn đề.

755. Identity theory: Thuyết căn tính

Thuyết cho rằng các tâm trạng đồng nhất với các não trạng. Trong token identity theory (thuyết căn tính qua dấu hiệu), các trạng thái căn tính của tâm trí và các trạng thái căn tính của bộ não xảy ra bên trong cái cá nhân. Type identity theory (thuyết căn tính kiểu loại) mở rộng thuyết này tới thuyết cho rằng khi hai hay nhiều người chia sẻ một tâm trạng (như niềm tin là băng thì lạnh) thì họ cũng có cùng não trạng. Cũng gọi là central state theory (thuyết trạng thái trung tâm), identity theory of the mind (thuyết căn tính của tâm trí).

756. Identity versus role confusion: Căn tính đối đầu với sự bối rối về vai trò

Giai đoạn thứ 5 trong 8 giai đoạn phát triển của Erikson, đánh dấu bằng khủng hoảng căn tính trong tuổi thiếu niên. Trong giai đoạn này, cá nhân có thể trải nghiệm một MORATORIUM (thời kì tạm ngưng) về tâm lí xã hội, cho phép thực nghiệm với các vai trò xã hội. Cá nhân có thể “thử” những vai trò khác nhau và đồng nhất mình với những nhóm khác nhau trước khi hình thành một căn tính cố kết, tích cực cho phép mình đóng góp cho xã hội; xen kẽ với diễn trình ấy, cá nhân có thể đồng nhất mình với những nhóm dị biệt để hình thành một căn tính tiêu cực, hay có thể vẫn bối rối về căn tính của mình, một trạng thái mà Erikson gọi là IDENTITY DIFFUSION (sự khuếch tán căn tính).

757. Ideomotor activity: Hoạt động ý vận

Vận động, trong một số trường hợp là công phu kĩ lưỡng, liên quan đến những ý tưởng đang diễn ra, nhưng sản sinh ra kết quả không tuân theo ý chí. Hoạt động ý vận giải thích nhiều hiện tượng đa dạng, bao gồm các cử chỉ không lời trong khi trò chuyện và những hiện tượng tâm linh khác nhau. Cũng gọi là ideomotor action (hành động ý vận)

758. Ideomotor theory: Thuyết ý vận

Giả thuyết cho rằng các hành động được khơi gợi một cách xung động bởi những hình ảnh tâm trí và được thực hiện một cách tự phát không có sự ức chế. Do đó, nó tuyên bố là các hình ảnh có quyền lực tạo động lực. Do Williams James đề xuất.

759. Idiogamist: Người đặc giao

Một người chỉ có thể đáp ứng tính dục đầy đủ với chồng/ vợ mình, không thể hoặc không đáp ứng thích đáng với những đối tác khác. Thường là người đàn ông không thể hoặc không duy trì được sự cương dương với ai khác ngoài vợ mình (hay, đôi khi, ngoài những phụ nữ giống vợ mình).

760. Idiographic: (tính) Cá biệt

Liên quan đến việc mô tả và hiểu một trường hợp cá biệt, đối lập với việc phát biểu những luật tổng quát NOMOTHETIC. Các nhà Tâm lý học Mĩ Kenneth MacCorquadale (1919-86) và Paul Meehl nhận diện đó là hai truyền thống tương phản trong việc giải thích các hiện tượng tâm lí. Một phương pháp idiographic liên can đến việc nghiên cứu thấu đáo, kĩ lưỡng một con người hay trường hợp đơn lẻ nhằm có được sự hiểu sâu về con người hay trường hợp ấy, tương phản với việc nghiên cứu các phương diện phổ quát của các nhóm người hay trường hợp. Trong những địa hạt Tâm lý học mà con người cá nhân là đơn vị phân tích (như Tâm lý học nhân cách, phát triển hay lâm sàng), phương pháp cá biệt có sự lôi cuốn, vì nó tìm kiếm đặc trưng của một cá nhân riêng biệt, nhấn mạnh các nét nổi bật đặc trưng của cá nhân ấy và tính độc nhất của hành vi và sự hiệu chỉnh của cá nhân, hơn là sản sinh một bộ kiến trúc Tâm lý học phổ quát có thể áp dụng cho một tập thể dân chúng.

Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 72) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024