651. Gain-loss effect: Hiệu ứng được-mất
Sự khám phá ra rằng mọi người có xu hướng bị thu hút nhiều nhất bởi những người có vẻ ngày càng thích mình, và ít nhất bởi những người có vẻ ngày càng bớt thích mình; những sự gia tăng hay giảm bớt này có tác động nhiều hơn là sự ổn định trong sự thích hay hành vi tưởng thưởng. Hiện tượng này được lưu ý đầu tiên bởi triết gia Hà Lan Baruch Spinoza (1632-77) trong sách Đạo đức học (Ethics) là di cảo xuất bản năm 1677; và được nghiên cứu thông qua quan nghiệm đầu tiên bởi các nhà Tâm lý học Mĩ Elliot Aronson (1932-) và Darwyn E. Linder (1939-), tường trình trong Tập san Tâm lý học Xã hội thực nghiệm (Journal of Experimental Social Psychology) năm 1965 những kết quả thực nghiệm trong đó một số sinh viên nghe lén cuộc chuyện trò mà một bạn sinh viên khác thảo luận về họ, hoặc là hoàn toàn tích cực, hoặc là hoàn toàn tiêu cực, bắt đầu với những bình luận tiêu cực rồi trở nên tích cực hơn (được), hay ngược lại (mất). Sau đó những sinh viên nghe lén được hỏi ý kiến về bạn sinh viên kia, kết quả cho thấy họ thích nhất khi “được” và không thích nhất khi “mất”.
652. Gambling disorder: Rối loạn cờ bạc
Một rối loạn liên quan đến sự nghiện ngập, đặc trưng là việc cờ bạc liên miên và không thích nghi, tạo ra sự suy yếu hay trầm cảm đau buồn đáng kể, mà các dấu hiệu và triệu chứng là nhu cầu ngày càng có nhiều tiền để đạt đến trình độ kích thích được ham muốn; trở nên bứt rứt không yên khi ngưng cờ bạc, toan tính lặp đi lặp lại và bất thành trong việc chấm dứt cờ bạc; bận tâm thường xuyên với chuyện cờ bạc; sử dụng việc cờ bạc làm lối thoát khỏi lo âu hay bất hạnh; toan tính gỡ những canh bạc thua bằng cách đánh tiếp; hi sinh một công việc tốt, quan hệ cá nhân hay cơ hội học hành vì cờ bạc; và dựa dẫm vào người khác để vượt qua khủng hoảng tài chính do cờ bạc.
653. Gender bias: Thiên kiến giới tính
Bất kỳ cái nào trong nhiều dạng thiên kiến liên quan đến việc xử sự khác biệt với người nữ và người nam. Bao gồm những giả định không có bảo đảm thể hiện trong ngôn ngữ, như “physicians and their wives” (các thầy thuốc và vợ/ phu nhân) thay vì “physicians and their spouses” (các thầy thuốc và người phối ngẫu) (để tránh việc mặc định thầy thuốc phải là nam), “chairman” (ông chủ tịch) thay vì “chairperson” (chủ tịch, không xác định giới tính), hay sử dụng “he” (ông, anh) khi cuộc thảo luận liên quan đến người thuộc cả hai giới…
654. Gender indentity disorder: Rối loạn căn tính giới
Một rối loạn có đặc trưng là đau buồn, trầm cảm hay suy giảm đáng kể về vận hành chức năng do việc nhận dạng xuyên giới tính (ham muốn được hoặc khăng khăng cho rằng mình thuộc giới tính đối lập) và liên miên không thoải mái vì tin rằng giới tính của mình không thích ứng với bản ngã thật của mình. Rối loạn này được phân biệt với sự đơn thuần bất mãn hay không thoải mái với các vai trò của giới. Ở trẻ em, rối loạn thể hiện ở sự ghét bỏ những khía cạnh thể chất của giới tính mình và bác bỏ các vai trò giới tính truyền thống. Ở trẻ mới lớn và người lớn, thể hiện ở niềm tin dai dẳng là mình đã sinh ra sai giới tính và bận tâm về việc thay đổi những đặc trưng sơ cấp và thứ cấp của giới tính. Loại Rối loạn căn tính giới không được chuyên biệt hoá (Gender indentity disorder not otherwise specified) được dùng để phân loại những rối loạn liên quan đến giới tính khác biệt với rối loạn căn tính giới, như *gender dysphoria (khó chịu liên quan đến giới tính)*liên quan đến congenital intersexuality (liên giới tính bẩm sinh), hành vi ăn vận chuyển giới liên quan đến stress (transvestism: giả trang khác giới), hay bận tâm đến việc thiến hoạn (penectomy).
655. General adaptation syndrome (GAS): Hội chứng thích nghi tổng quát
Những hậu quả sinh lí của các stress nghiêm trọng. Hội chứng có ba giai đoạn: báo động, kháng cự và kiệt quệ. Giai đoạn 1, phản ứng báo động gồm hai phân kì: Kì sốc (shock phase), đánh dấu bằng sự giảm thân nhiệt, giảm huyết áp, giảm trương lực cơ và mất dung dịch từ các mô; kì phản sốc (countershock phase) trong đó hệ thần kinh giao cảm được khởi động và có sự gia tăng các adrenocortical hormone, kích hoạt phản ứng phòng vệ như trong “phản ứng chiến-chạy” (Fight-flight reaction). Kì kháng cự (resistance phase) hay thích nghi (adaptation phase) là sự ổn định hoá ở các trình độ gia tăng về sinh lí. Huyết áp cao có thể phát triển thành huyết áp thấp, với nguy cơ rối loạn tim mạch. Các nguồn lực có thể được rút ra và sinh ra những thay đổi thường trực về cơ quan. Kì kiệt quệ (exhaustion phase) có đặc trưng là mất những thích nghi đã có được đối với tình huống stress kéo dài; chứng cứ là những rối loạn về giấc ngủ, bứt rứt, mất tập trung nghiêm trọng, không yên, run rảy làm rối loạn sự điều phối vận động, mệt mỏi, giật mình, dễ lo âu, tâm trạng trầm uất, và khóc lóc không dứt. [được mô tả lần đầu bởi thầy thuốc Canada gốc Áo Hans Seyle (1907-1982)].
656. General factor of personality: Nhân tố tổng quát của nhân cách
Một nhân tố bao trùm của nhân cách được gợi ra bởi nhà Tâm lý học Slovenia Janek Musek (1945-) trong một bài viết trên Tập san Nghiên cứu về nhân cách (Journal of Research in Personality) năm 1977. Nó tích nhập Năm nhân tố lớn của nhân cách (Big Five personality factors) như các nhân tố cấp dưới, và một người có số điểm cao về nhân tố tổng quát sẽ có tính hướng ngoại, dễ chịu, chu đáo, ổn định về cảm xúc (hơn là dễ bị kích thích), và cởi mở cho trải nghiệm, hay thông minh. Cũng gọi là the Big One.
657. General psychology: Tâm lý học tổng quát
Nghiên cứu những nguyên lí, vấn đề và phương pháp cơ sở làm nền móng của khoa Tâm lý học, bao gồm những địa hạt như cơ sở sinh lí của hành vi, sự lớn lên và phát triển của con người, cảm xúc, động cơ, việc học, giác quan, tri giác, các tiến trình tư duy, trí nhớ, trí khôn, lý thuyết nhân cách, đo nghiệm tâm lí, rối loạn hành vi, hành vi xã hội, và sức khoẻ tâm trí. Nghiên cứu được nhìn từ nhiều quan điểm khác nhau, bao gồm Tâm lý học, sử học, lý thuyết, triết học, và thực hành.
658. Generalized anxiety disorder: Rối loạn lo âu tổng quát
Một rối loạn lo âu, đặc trưng là lo âu cực độ và phần lớn không kiểm soát được, không tập trung vào một hoàn cảnh cụ thể mà liên quan đến các sự kiện hay hoạt động hằng ngày như những vấn đề ở nơi làm việc hay trường học, với những triệu chứng bất an, mệt mỏi, khó tập trung, bứt rứt, căng cơ, hay mất ngủ, tạo ra suy yếu trong các chức năng hằng ngày. Cũng gọi là anxiety neurosis, free-floating anxiety.
659. Generalized imitation: (sự) Bắt chước tổng quát
Sự bắt chước các hình thức hay hành vi chưa từng thấy trước khi chúng được một hình mẫu trưng ra. Có thể là kết quả của một tiền sử bắt chước hay củng cố.
560. Generic knowledge: Kiến thức thông dụng
Kiến thức về những thực kiện ngoài trải nghiệm cá nhân hay ngoài cuộc sống của bản thân. Một kiểu thông tin được lưu trữ trong kiến thức ngữ nghĩa (semantic knowledge).
661. Genetic epistemology: Tri thức học sinh-triển
Thuật ngữ được nhà Tâm lý học Thuỵ Sĩ Jean Piaget (1896-1980) sử dụng để mô tả bản chất nghiên cứu của mình. Ông bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu với tham vọng đóng góp vào tri thức học, tin rằng nhiều vấn đề tri thức học thực ra là những câu hỏi mang tính quan nghiệm và một cách tiếp cận mang tính sinh-triển (sinh ra và phát triển) sẽ là kết quả nhất. Tác phẩm ba tập của ông đặc biệt dành cho tri thức học sinh-triển là Dẫn nhập vào Tri thức học sinh triển (Introduction à l’Épistémologie Génétique) bao trùm nhiều nhánh kiến thức, như toán học, logic học, vật lí học, sinh học, tâm lý học và xã hội học, tất cả nhìn từ quan điểm tri thức học.
662. Genetic sexual attraction: (sự) Hấp dẫn giới tính di truyền
Tình cảm dâm dục giữa những người bà con gần, thường là giữa anh chị em hay giữa bố mẹ và con cái xa cách nhau từ sớm trong cuộc sống và đoàn tụ trong thời mới lớn hay trưởng thành. Hiện tượng được nhận ra đầu tiên sau khi luật nhận con nuôi được nới lỏng ở Hoa Kì và Anh Quốc vào giữa những năm 1970, cho phép những người con nuôi tìm lại quan hệ máu mủ. Thuật ngữ được giới thiệu trong một lá thư công bố năm 1987 bởi cố vấn về việc nhận con nuôi của Hoa Kì Barbara Gonyo (1937-), bà cảm thấy mình bị thu hút bởi chính con trai mình khi hai mẹ con đoàn tụ vào năm 1979 sau 26 năm cho con đi làm con nuôi. Thuật ngữ trở nên được biết đến rộng rãi sau khi cuốn sách của Gonyo xuất bản năm 1991, The Forbidden Love (Genetic Sexual Attraction) – Tình yêu bị cấm đoán (Sự hấp dẫn giới tính di truyền).
663. Genital stage: Giai đoạn sinh thực khí
(trong Phân tâm học) Giai đoạn cuối của sự phát triển tâm lí giới tính, sau giai đoạn miệng (oral), hậu môn (anal), phallic (dương vật) và thời kỳ tiềm ẩn (latency period). Giai đoạn sinh thực khí có đặc trưng là sự tập trung dục năng (libido) vào địa hạt sinh thực khí, và nổi lên trong tuổi dậy thì, khi phức cảm Oedipus tái hiện và được vượt qua với sự thành công ít hay nhiều thông qua việc lựa chọn đối tượng một cách chín chắn. Khái niệm được phát triển bởi Sigmund Freud (1856-1939) trong một đoạn thêm vào sách Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục (Three Essays on the Theory of Sexuality (1905). Trong đoạn bổ sung năm 1915 này, ông gợi ý rằng nó bắt rễ từ tuổi thơ: “Sự khác nhau duy nhất nằm ở thực kiện là trong tuổi thơ, sự kết hợp giữa các bản năng hợp thành và sự phụ thuộc của chúng vào tính ưu tiên của sinh thực khí đã chỉ xảy ra một cách rất không hoàn chỉnh hay là không hề xảy ra. Do đó sự thiết lập tính ưu tiên này phục cụ cho việc tái sinh sản là kì cuối cùng thông qua đó sự tổ chức tính dục diễn ra”. Cũng gọi là genital phase.
664. Geropsychology: Tâm lý học lão khoa
Một nhánh Tâm lý học nghiên cứu về sức khoẻ tâm trí của người cao tuổi và diễn trình lão hoá.
665. Gerontophilia: (tật) Lão ái
Một tật chứng tà dâm có đặc trưng là lặp đi lặp lại phóng (huyễn) tưởng, thôi thúc hay hành vi tính dục mạnh mẽ liên quan đến hoạt động tính dục với người cao tuổi.
666. Gestalt: Dạng thức
Một dạng thức giác tri (tri giác) (Gestalt tiếng Đức nghĩa là hình dáng, cấu hình, dạng thức, toàn bộ, hình thái) tạo bởi các yếu tố tích hợp và tương tác theo cách để chuyên chở các thuộc tính trong dạng thức toàn bộ mà các yếu tố cá thể không có được. Một dạng thức hay cấu trúc giác tri có những phẩm chất vượt lên trên tổng của các yếu tố hay bộ phận tạo thành và không thể mô tả một cách đơn giản theo từng bộ phận. Một ví dụ kinh điển là sự không đổi của giai điệu âm nhạc, một giai điệu gồm chuỗi nốt nhạc có thể chơi ở bất kỳ nhạc cụ nào và theo khoá nhạc nào, âm vực nào, nhưng đều có một dạng thức mà ai cũng nhận ra ngay, không phụ thuộc vào từng nốt nhạc cụ thể.
667. Gestalt psychology: Tâm lý học dạng thức
Một trường phái Tâm lý học quan tâm phần lớn đến hiện tượng Gestalt nổi lên trong giác tri (tri giác). Những nhà tiên phong là nhà thơ Đức Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832), nhà vật lí, triết học và Tâm lý học Áo Ernst Mach (1838-1916) và đặc biệt nhà triết học Đức Christian von Ehrenfels (1859-1932), nhưng dấu vết của trường phái được thấy rõ từ năm 1912 và với bài viết có ảnh hưởng mạnh mẽ về chuyển động biểu kiến (apparent movement) của nhà Tâm lý học Đức Max Wertheimer (1880-1943). Ông chứng minh rằng hai luồng đèn flash liên tiếp chứ không phải từng luồng sáng riêng rẽ cho ta ảo ảnh về chuyển động. Nó là cuộc nổi dậy chống lại thuyết Cấu trúc (Structuralism) vốn phân tích trải nghiệm thành những cảm giác tĩnh, riêng rẽ từng yếu tố (atomistic), và cũng chống lại cách tiếp cận như thế của thuyết Hành vi (Behaviorism) vốn toan tính phân tách hành vi phức hợp thành những phản xạ có điều kiện sơ đẳng. Thay vì thế, Tâm lý học Gestalt cho rằng trải nghiệm là một tổng thể có tổ chức mà các mảnh là bộ phận tích hợp với nhau. Trường phái này chuyển qua Mĩ khi chủ nghĩa Quốc xã đi lên ở Đức và Wertheimer nhập cư vào Mĩ cùng với những nhà Tâm lý học người Đức Kurt Koffka (1886-1941), Wolfgang Kohler (1887-1967) và Kurt Lewin (1890-1947).
668. Gestalt therapy: Liệu pháp Gestalt
Một hình thức tư vấn hay tâm lí liệu pháp, không liên quan đến Tâm lý học Gestalt, được phát triển ở Mĩ trong những năm 1960 bởi nhà tâm thần học gốc Đức Friedrich Salomon Fritz Perls (1893-1970), trong đó người bệnh được khuyến khích tập trung vào hiện tại tức thời và bộc lộ cảm nhận của mình một cách cởi mở và trung thực.
669. Gesture-postural language: Ngôn ngữ cử chỉ-tư thế
Ngôn ngữ không lời trong đó sự truyền thông hạn chế ở các cử chỉ và tư thế.
670. Ghost in the machine: Bóng ma trong cỗ máy
Một ngữ đoạn dùng để nhấn mạnh các vấn đề liên kết với thuyết nhị nguyên Descartes, trong đó tâm trí được coi như một thực thể phi vật lí (một “bóng ma”) trú ngụ và tương tác với một cơ thể máy móc (“cỗ máy”) [thuật ngữ do triết gia Anh Gilbert Ryle (1900-1976) đặt ra].
671. Global Deterioration Scale (GDS): Thước đo suy thoái bao quát
Một thước đo gồm 7 điểm dùng để chỉ ra mức nghiêm trọng của chứng Dementia (sa sút trí tuệ) chủ yếu, như bệnh Alzheimer, ở người lớn, dựa trên sự quan sát hành vi của người bệnh. Đi từ tình trạng không suy giảm về thức nhận (nhận thức) (1) đến tình trạng suy giảm thức nhận rất nghiêm trọng (7). [phát triển vào năm 1982 bởi thầy thuốc tâm thần Mĩ Barry Reisberg (1947-)]
672. Global perception: Giác tri (tri giác) bao quát
Giác tri bao trùm về một đối tượng hay một tình huống tập trung vào toàn thể hơn là các bộ phận.
673. Glove anaesthesia/ anesthesia: (chứng) Mất cảm giác bàn tay
Vắng mặt cảm giác hay cảm nhận ở bàn tay, địa hạt mất cảm giác chấm dứt đột ngột ở cổ tay, là một triệu chứng về tình trạng tâm trí liên quan đến rối loạn thần kinh không do tổn thất hay khiếm khuyết của hệ thần kinh. Các chứng mất cảm giác bàn chân (shoe anaesthesia) và mất cảm giác bàn chân với cổ chân (stocking anaesthesia) cũng được diễn giải tương tự.
674. Goal-free evaluation: (sự) Đánh giá không vị mục đích
Sự đánh giá một chương trình mà không có hiểu biết đặc biệt về các mục đích được nói lên của chương trình, hay không có các mục tiêu đánh giá, cho nên ít bị vướng vào những tiên kiến hay thiên kiến của người nghiên cứu. Thay vì thế, việc đánh giá toan tính đánh giá những tác động hiện tại của chương trình đối với người được đánh giá, các nhu cầu thực của họ, và, điều quan trọng là những tác động tiêu cực không chủ định của chương trình. Cũng gọi là Value-free evaluation (sự đánh giá không phụ thuộc giá trị).
675. Goal-gradient hypothesis: Giả thuyết cận đích
Cho rằng xu hướng của một người hay động vật tiến đến một mục tiêu tăng lên theo độ gần mục tiêu. Giả thuyết được đề xuất đầu tiên bởi nhà Tâm lý học Mĩ Clark Leonard Hull (1884-1952) trong bài viết nhan đề “Giả thuyết Cận đích và việc Học tìm mục tiêu trong mê cung” (The Goal-Gradient Psychothesis and Maze Learning) trên Tạp chí Tâm lý học (Psychological Review) năm 1932. Chứng cứ thực nghiệm sau đó được tường thuật trong Tập san Tâm lý học so sánh (Journal of Comparative Psychology) năm 1943 cho thấy những con chuột bị đói trong một mê cung có xu hướng chạy nhanh hơn khi đến gần đích là cái hộp đựng thức ăn, và cũng có chứng cứ về hành vi của người.
676. God-image: Hình ảnh Thượng đế
(trong Tâm lý học phân tích) Hình ảnh của Thượng đế hiện ra trong giấc mơ hay cơn phóng (huyễn) tưởng, là sự biểu tượng hoá cái bản ngã. Carl Gustav Jung (1875-1961) mượn thuật ngữ này từ thần học Kitô giáo Trung đại, trong đó imago Dei được tin là đã hằn sâu vào hồn con người.
- Golden Rule: Qui tắc Vàng
Nguyên lí tương hỗ (có đi có lại) về đạo đức học. Trong truyền thống Kito giáo, nó thường được diễn đạt là “hãy làm cho người khác điều mà mình muốn họ làm cho mình”, nhưng cũng có nhiều phiên bản tương tự trong các tôn giáo và nhiều hệ đạo đức trên thế giới (như: “kỉ sở bất dục vật thi ư nhân”: điều mình không muốn thì đừng làm cho người). Triết gia Đức Immanuel Kant (1724-1804) đề xuất một nguyên lí tương tự trong Categorical Imperative (Mệnh lệnh tuyệt đối).
678. Good breast: Hảo nhũ
(trong Phân tâm học) Khái niệm được giới thiệu bởi nhà Tâm lý học Anh gốc Áo Melanie Klein (1882-1960) để chỉ một phương diện của vú mẹ như vật là một phần của những phóng tưởng trẻ thơ sau khi phân nó ra thành hảo nhũ (good breast) và bất hảo nhũ (bad breast), đó là cơ chế phòng vệ chống lại tính nước đôi và mối lo âu sinh ra từ tính nước đôi ấy. Sự hài lòng của kẻ đói có xu hướng sinh ra một hình ảnh của hảo nhũ và sự cai sữa sinh ra bất hảo nhũ thông qua một vòng luẩn quẩn bao gồm sự phóng chiếu trong đó đứa trẻ đi đến chỗ tin rằng vú mẹ bị cai là do bị ghét bỏ. Trong thuyết Kĩ thuật phòng vệ của nhà phân tâm học Scotland W. Ronald D. Fairbairn (1898-1964), sự khu trú hảo nhũ và bất hảo nhũ xác định kĩ thuật phòng vệ cụ thể mà đứa trẻ mắc chứng loạn (nhiễu) tâm theo đuổi.
679. Good continuation: (sự) Tiếp tục tốt đẹp
Một trong bốn luật nhóm gốc của Tâm lý học Gestalt, phát biểu năm 1923 bởi nhà Tâm lý học Đức Max Wertheimer (1880-1943) để giải thích sự tổ chức các bộ phận thành những toàn thể bởi hệ thị giác. Theo luật này, những yếu tố chuyển động cùng chiều có xu hướng nhóm lại về tri giác, từ đó biểu tượng X được giác tri (tri giác) như hợp bởi hai đường thẳng hơn là (chẳng hạn) hai dấu > và <, và biểu tượng Æ được giác tri (giác) như một vòng tròn có một đường thẳng xuyên qua. Một trường hợp đặc biệt của luật này đối với các yếu tố chuyển động theo thời gian được gọi là Số phận chung (Common fate).
680. Good shape: Ưu dạng
Một nguyên lí về giác tri (tri giác) được nhận dạng vào năm 1923 bởi nhà Tâm lý học Đức Max Wertheimer, liên kết với Tâm lý học Gestalt. Cho rằng người ta có xu hướng giác tri các bóng dáng theo những hình thức đồng dạng và ổn định nhất có thể có. Cũng gọi là Law of good shape (luật ưu dạng); Principle of good shape (nguyên lí ưu dạng).
681. Grandiose delusion: (chứng) Ảo vĩ cuồng
Ảo tưởng về sự quan trọng, quyền lực, sự giàu có, kiến thức hay bản sắc được thổi phồng của mình, hoặc về việc mình có tài năng hay trí tuệ lớn lao nhưng không được thừa nhận, mình đã có một khám phá đầy ý nghĩa, hay có mối quan hệ đặc biệt với một người nổi tiếng.
682. Grandiose self: Cái bản ngã khoa trương
(trong Tâm lý học bản ngã (self-psychology)) Thuật ngữ được nhà phân tâm học Mĩ gốc Áo Heinz Kohut (1913-81) đưa vào, để chỉ một hình ảnh tự thân mà đứa trẻ phát triển khi chứng tự si mê (là bản tính tự nhiên) của bé bị phá một cách không thể tránh khỏi bởi việc người mẹ đôi khi không đáp ứng được một cách thích đáng. Cái bản ngã khoa trương này thông thường sẽ được điều hoà khi đứa trẻ lớn lên và đáp ứng của cha mẹ thay đổi; nhưng nó sẽ vẫn không thay đổi nếu chuỗi phát triển bị gián đoạn, đặc biệt là nếu người mẹ không bao giờ đáp ứng thích đáng hay đáp ứng một cách khó đoán hay đáp ứng không thực tế; và trong những trường hợp như thế, đứa trẻ có thể phát triển chứng rối loạn nhân cách tự si mê (narcissism personality disorder). Cũng gọi là Grandiose ideas or actions (Các ý nghĩ hay hành động khoa trương).
683. Graphomania: (chứng) Cuồng viết
Tình trạng luôn bị thôi thúc quá mạnh phải viết, thường dẫn đến graphorrhoea (chứng cuồng viết cực độ, mất kiểm soát, viết lộn xộn).
684. Group dynamics: Lực vận động/ Tâm lý học vận động của nhóm
– Các diễn trình, vận động và thay đổi mang tính động hơn là tĩnh trong lòng các nhóm xã hội, mà tác động đến các mẫu liên kết, truyền thông, xung đột, tuân thuận, ra quyết định, ảnh hưởng, lãnh đạo, hình thành chuẩn mực và quyền lực. Thuật ngữ được Kurt Lewin sử dụng, nhấn mạnh quyền lực của những lực lượng luôn thay đổi là đặc trưng của các nhóm liên cá nhân.
– Lĩnh vực Tâm lý học giành cho sự nghiên cứu các nhóm và diễn trình của nhóm.
– Một định hướng về khái niệm và lâm sàng trong liệu pháp tâm lí nhóm, thừa nhận và khai thác các diễn trình ở trình độ nhóm trong nhóm điều trị.
685. Group identification: (sự) Đồng nhất nhóm
– Hành động hay diễn trình đồng hoá bản thân quá mạnh với một nhóm và các thành viên, khiến người ta bắt chước và nội nhập các nét nổi bật của nhóm (hành động, niềm tin, tiêu chuẩn, mục tiêu…). Diễn trình này có thể dẫn đến không chỉ tinh thần thuộc về nhóm được nâng cao, niềm tự hào nhóm, và cam kết nhóm, mà cũng đến tình trạng tự động rập khuôn (autostereotyping).
– (trong thuyết phân tâm của Sigmund Freud) Diễn trình của các cá nhân trở nên gắn bó về cảm xúc với các nhóm xã hội. Đúng như đứa trẻ ràng buộc và bắt chước cha mẹ, người lớn ràng buộc và bắt chước các đặc điểm của nhóm.
– (hiếm xảy ra hơn) Sự coi trọng quan điểm của một nhóm khác dù mình không phải là thành viên của nó.
686. Group polarization: (sự) Phân cực nhóm
Xu hướng can dự vào một nhóm để tạo ra các thái độ và ý kiến của các thành viên nhằm trở nên cực đoan hơn theo hướng của những thái độ và ý kiến áp đảo trong nhóm. Hiện tượng này được giải thích bởi sự can dự tập thể và tham gia nhóm làm cho các chuẩn mực của nhóm nổi rõ, khuyếch trương các thái độ và ý kiến chuẩn mực của cá nhân và làm cho chúng chuyển đổi mạnh hơn theo hướng của các chuẩn mực của nhóm. Khái niệm được nhà Tâm lý học xã hội Pháp gốc Rumania Serge Moscovici (1925-2014) và nhà Tâm lý học xã hội Canada gốc Ý Marisa Zavalloni (1929-) giới thiệu vào năm 1925, hai người đã cung cấp bằng chứng, ví dụ như thái độ của sinh viên Pháp nhìn chung là ủng hộ de Gaulle trở nên càng tích cực và thái độ nhìn chung là thù địch với người Mĩ ngày càng tăng sau việc thảo luận nhóm.
687. Group socialization theory: Thuyết xã hội hoá nhóm
Một lý thuyết về phát triển nhân cách cho rằng trẻ em được xã hội hoá trước nhất là bởi chúng bạn và ảnh hưởng của cha mẹ và thầy cô giáo bị lọc qua các nhóm chúng bạn. Theo thuyết này, trẻ em tìm cách giống chúng bạn hơn là giống cha mẹ. [được đề xuất bởi nhà Tâm lý học phát triển Mĩ judith rich harris (1938-)].
688. Group therapy: Liệu pháp nhóm
Thuật ngữ chung cho nhiều kĩ thuật tâm lí liệu pháp trong đó người bệnh được chữa trị cùng nhau theo nhóm, bao gồm những liệu pháp truyền thống áp dụng cho nhóm, các nhóm gặp gỡ (encouter group), liệu pháp môi trường xã hội (milieutherapy), tâm kịch (psychodrama), xã hội kịch (sociodrama), nhóm huấn luyện (T-group) và vô số những liệu pháp không theo qui ước khác (marathon, growth, confrontation…). Được tin là sử dụng đầu tiên bởi thầy thuốc tâm thần Scotland William Alexander Francis Browne (1805-85) năm 1855. Cũng gọi là Group psychotherapy.
689. Groupthink: Tư duy nhóm
Một mẫu tập thể về tránh né mang tính phòng vệ, đặc trưng là việc ra quyết định nhóm trong những tổ chức mà thành viên phát triển sự hợp lí hoá những ảo tưởng được chia sẻ về tính không thể thất bại và không thể bị tổn thương của mỗi người trong phạm vi nhóm. Nhà Tâm lý học Mĩ Irving Lester Janis (1918-90) đã giới thiệu thuật ngữ này trong sách Nạn nhân của tư duy nhóm (Victims of Groupthink) năm 1972 trong đó liệt kê 8 nét nổi bật: ảo tưởng về tính không thể bị tổn thương; nỗ lực tập thể để hợp lí hoá nhằm hạ thấp những cảnh báo; niềm tin không thắc mắc ở đạo đức cố hữu của nhóm; những cái nhìn rập khuôn về địch thủ và kẻ thù; áp lực trực tiếp với thành viên bất đồng quan điểm chung; tự kiểm duyệt những gì trái với ý có vẻ được đồng thuận nhóm; ảo tưởng được chia sẻ về sự nhất trí; nổi lên những người bảo hộ tự phong từ thông tin chống đối có thể phá hoại sự đồng thuận đang có.
690. Guided discovery: (sự) Khám phá được hướng dẫn
Một kĩ thuật sử dụng trong việc cải sửa hành vi nhận thức để giúp người bệnh nhớ lại các bước dẫn đến một ví dụ cụ thể về cảm nhận lo âu hay trầm cảm, với cái nhìn khu trú những yếu tố có tiềm năng thay đổi ở các mẫu tư duy của người bệnh.
691. Guilford’s cube: Khối lập phương Guilford
Một hình mẫu đa nhân tố về cấu trúc trí tuệ (structure of intellect – SOI) được phát triển và tinh chỉnh từ năm 1946 bởi nhà Tâm lý học Mĩ Joy Paul Guilford (1897-1987) và thường được mô tả như một khối gần như lập phương. Theo đó, trí khôn gồm có 120 năng lực độc lập (đến năm 1950 phát triển thành 150 và thành 180 vào năm 1988). Một nhiệm vụ tâm trí có thể dính đến 6 loại thao tác (thức nhận (nhận thức), ghi nhớ, lưu giữ kí ức, sản sinh bất đồng qui, sản sinh đồng qui, đánh giá); 5 loại biểu trưng hay nội dung khác nhau (thị giác, thính giác, tượng trưng, ngữ nghĩa, hành vi); và 6 loại sản phẩm khác nhau (đơn vị, lớp hạng, quan hệ, hệ thống, biến chuyển, hay liên can-hàm ý). Nhân những nhân tố ấy với nhau, sẽ sinh ra 180 nhân tố nhận thức khác nhau, mỗi cái có thể được đánh giá bằng một nhiệm vụ khác nhau, và thuyết này có thể được thể hiện bằng một “khối lập phương” 6 X 5 X 6 gồm 180 đơn vị nhỏ hơn. Cũng gọi là structure-of-intellect model (hình mẫu cấu trúc trí tuệ).
692. Guilty knowledge test: đo nghiệm sự biết rõ tội lỗi
Một hình thức phát hiện nói dối trong đó sự biết rõ chi tiết một tội ác được đo nghiệm. Người thẩm tra đưa ra nhiều câu hỏi liên quan đến tội ác mà chỉ có tội phạm có thể trả lời đúng. Người thẩm tra đo đạc sự kích động về sinh lí của người bị thẩm tra khi mỗi câu trả lời được đưa ra và nhận diện câu hỏi nào gây ra đáp ứng mạnh nhất. Qua hàng loạt câu hỏi, nếu người bị thẩm tra vẫn một mực thể hiện đáp ứng mạnh nhất đối với câu trả lời đúng, thì có thể thấy rằng người bị thẩm tra biết rõ chi tiết của tội ác.
693. Gulf War Syndrome: Hội chứng Chiến tranh Vùng Vịnh
Một rối loạn ở các binh sĩ dính líu đến cuộc chiến Vùng Vịnh 1991, đặc trưng là mỏi mệt, đau cơ và khớp, đau đầu, mất trí nhớ, mất ngủ, bệnh ngoài da, trầm cảm và bứt rứt, có thể nguyên nhân là những liều chủng ngừa đa bội, hơi độc thần kinh, tương tác giữa tiêm chủng và thuốc chống hơi độc thần kinh, hay các thuốc diệt côn trùng. Viết tắt: GWS.
694. Gynecomimesis: (tật) Nhại nữ tính
Hứng tình của người nam khi ăn mặc và đóng giả nữ.
Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 68) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024