Thuật ngữ bắt đầu bằng “Am”:
- Ambivalence: Lưỡng cảm
- Sự tồn tại cùng lúc hai tình cảm, hai khao khát, hai niềm tin, hay hai khuynh hướng ứng xử trái ngược (đặc biệt về tình cảm: vừa yêu vừa ghét).
- Amblyacusia: Sự suy giảm về thính giác
- Cũng gọi là amblyacusis, amblyacousis.
- Amblyaphia: Sự suy giảm về xúc giác
- Amblygeustia: Sự suy giảm về vị giác
- Amblyopia: Sự suy giảm về thị giác
- Amnesia: Sự mất trí nhớ
- Những dạng mất trí nhớ phổ biến nhất tác động đến trí nhớ tuyên bố (declarative memory, trí nhớ về những tuyên bố hay tường thuật, mô tả) hơn là trí nhớ qui trình (procedural memory, như kĩ năng, thói quen…).
- Amorphognosia: Sự mất xúc giác hình thể
- Sự mất khả năng nhận ra kích cỡ và hình dạng các vật qua xúc giác. Cũng gọi là amorphognosis.
- Amusia: Sự khiếm nhạc
- Sự mất khả năng nhận ra hay tái tạo giai điệu nhạc. Chứng amusia bẩm sinh chiếm 4-5% dân số và được tin là do di truyền gien.
Thuật ngữ bắt đầu bằng “An”:
- Anaclitic depression: Trầm cảm do thiếu cha/mẹ
- Một hình thức trầm cảm ở trẻ nhỏ thường do bị đột ngột tách khỏi cha/mẹ sau khi đã có quan hệ gần gũi trong 6 tháng đầu đời. Biểu hiện đặc trưng là khóc lóc, sợ hãi, co mình lại, biếng ăn, mất ngủ. Thuật ngữ này do nhà tâm lý học người Áo René Arpad Spitz (1887-1974) đưa ra.
- Anacusia: Tình trạng điếc hoàn toàn
- Anaesthesia: Chứng mất cảm giác
- General anaesthesia là mất hết ý thức, Local anaesthesia là mất cảm giác ở từng khu vực của cơ thể. (Tiếng Mỹ: Anesthesia).
- Anagogic interpretation: Phép diễn giải tâm linh
- Trong Phân tâm học, đây là phương pháp diễn giải giấc mộng, biểu trưng thần bí và những biểu trưng mang tính biểu tượng khác. Được coi là đối lập với phép diễn giải mang tính phân tích thông thường (đưa về nội dung bản năng, nhất là tính dục). Khái niệm này được Carl Gustav Jung (1875-1961) tích hợp vào phương pháp phân tích tâm lý trong khi Sigmund Freud (1856-1939) không thừa nhận.
- Anal character: Tính cách hậu môn
- Trong Phân tâm học, là mẫu nhân cách được xác định bằng những nét cố định ở giai đoạn hậu môn (anal stage), có đặc trưng là những nét nhân cách của người lớn như trật tự, tiết kiệm, ương bướng. Cũng gọi là Anal personality (nhân cách hậu môn) hay Anal triad (bộ ba tính cách hậu môn).
- Anal stage: Giai đoạn hậu môn
- Theo thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud, là giai đoạn tính dục thứ hai trong sự phát triển tâm lý-tính dục, từ khoảng 2-3 tuổi, đặc trưng là sự tập trung chú ý vào sự kích dục ở vùng hậu môn.
- Analytical psychology: Tâm lý học phân tích
- Thuật ngữ do C.Y. Jung đưa ra năm 1913, khi ông rời bỏ phong trào phân tâm học, để nhấn mạnh cách tiếp cận mới mà ông coi là đã tiến triển từ thuyết phân tâm học do mình lãnh đạo. Cũng gọi là Jungian analysis (Phân tích kiểu Jung).
- Anamnesis: Sự nhớ lại/ khả năng hồi tưởng
- Tính từ Anamnestic có nghĩa là dễ nhớ.
- Anankastic personality disorder: Rối loạn nhân cách ám ảnh-cưỡng chế
- Cũng gọi là obcessive-compulsive personality disorder.
- Anaphia: Sự mất xúc giác
- Anarthria: Sự mất khả năng nói năng mạch lạc
- Ancient mariner effect: Hiệu ứng cựu thuỷ thủ
- Xu hướng thích bộc lộ những chuyện thầm kín với người lạ hơn là với người quen.
- Androgynous (adj): Lưỡng tính (ái nam ái nữ)
- Lưu ý: không nhầm với androgenous (tình trạng) chỉ sinh được ra con trai.
- Andropause: Sự suy giảm tính dục nam
- Chủ yếu do giảm lượng testosterone trong máu (khoảng 1% mỗi năm từ tuổi 40). Đối lập với tình trạng menopause ở nữ (mãn kinh).
- Anergia: Sự lờ phờ, thiếu hoạt động
- Angst: Sự lo âu vô cớ
- Có thể là cảm giác lo âu vu vơ.
- Trong chủ nghĩa hiện sinh nói chung và liệu pháp hiện sinh nói riêng, là nỗi sợ xuất phát từ việc nhận thấy sự sinh tồn dẫn tới một tương lai bất định.
- Trong phân tâm học, là sự lo âu (tình trạng trông đợi hiểm hoạ xảy ra hay chuẩn bị cho nó); phân biệt với fright (sự hoảng sợ – tình trạng lâm vào hiểm hoạ mà không có sự chuẩn bị); và fear (sự sợ hãi – sợ một cái gì xác định).
- Anhedonia: Sự mất lạc thú
- Sự mất khả năng cảm nghiệm lạc thú hay mất khả năng hứng thú với những hoạt động khoái lạc cũ.
- Aniconia: Sự thiếu vắng trí tưởng tượng
- Anima: Nữ tính trong vô thức người nam
- Trong tâm lý học phân tích của Carl Gustav Jung, là nguyên lý nữ tính trong vô thức người nam, một cổ mẫu làm thành một phần của vô thức tập thể. Thể hiện khía cạnh nữ tính trong bản chất con người, với đặc điểm là óc tưởng tượng, phóng tưởng, và chơi vui, biểu hiện trong giấc mơ, trong những ảo tưởng….
- Animism: Niềm tin vật linh
- Niềm tin là cây cỏ, vật bất động hay các hiện tượng thiên nhiên cũng có ham muốn và chủ ý. Thuật ngữ được Sir Edward Burnett Tylor (1832-1919) dùng lần đầu theo nghĩa này để nói về các bộ lạc ở Ấn Độ. Nhà tâm lý học Thuỵ Sĩ Jean Piaget (1896-1980) dùng nó để mô tả tư duy của trẻ em chưa biết phân biệt các vật bất động với vật động.
- Cũng là học thuyết coi linh hồn là nguyên lý của sự sống (anima mundi) mà tất cả sự phát triển hữu cơ đều phụ thuộc vào, chủ yếu chịu ảnh hưởng của thầy thuốc người Đức Georg Ernst Stahl (1660-1734).
- Học thuyết được các triết gia cổ Hy Lạp Pythagoras (?580-?500 TCN) và Plato (?427-?347 TCN) rao giảng, theo đó có một lực phi vật chất tổ chức và làm sống động thế giới vật chất.
- Animus:
- Có nghĩa là ác cảm.
- Cũng có nghĩa là chủ định, mục đích hay động lực.
- Trong tâm lý học phân tích, là nam tính trong vô thức tập thể của người nữ, đặc điểm là ý thức tập trung vào một điểm, uy quyền, sự tôn kính. Là đối trọng của anima trong vô thức của người nam.
- Anna O:
- Tên do thầy thuốc người Áo Joseph Breuer (1842-1925) đặt cho bệnh nhân đầu tiên của ông được trải nghiệm phép phân tâm học. Bà Bertha Pappenheim (1860-1936) mắc chứng hysteria, được chữa khỏi bằng cách thôi miên để nhớ lại những chấn thương trong quá khứ, qua đó được thanh tẩy (catharsis).
- Anniversary reaction: Phản ứng niên niệm
- Phản ứng cảm xúc vào ngày kỷ niệm hàng năm một sự cố chấn thương, một trải nghiệm buồn đau (như mất người thân…).
- Anorexia: Sự ăn không ngon miệng
- Anorexia nervosa: Chứng sợ ăn
- Rối loạn về ăn uống thường gặp ở các cô gái sợ mập.
- Anorgasmia: Sự không đạt được cực khoái
- Trong hoạt động tính dục. Cũng gọi là anorgasmy.
- Anosmia: Sự mất khứu giác
- Anosognosia: Sự mất khả năng (hoặc từ chối) nhận ra tình trạng khiếm khuyết về cảm giác hay vận động của bản thân, thậm chí không nhận ra một bộ phận của cơ thể mình.
- Anticipatory socialization: Sự xã hội hoá tiên hành
- Sự chấp thuận những thái độ và giá trị của một nhóm mà mình không thuộc về, có tác dụng vừa tạo thuận lợi cho việc di chuyển vào nhóm mới này vừa khiến cho diễn trình tự điều chỉnh sau khi trở thành thành viên của nhóm được dễ dàng. Khái niệm này được phổ biến bởi nhà xã hội học người Mỹ Samuel Andrew Stouffer (1900-60) và các đồng tác giả công trình nghiên cứu “Người lính Mỹ” (1949).
- Anticonformity: Sự bất tuân thuận
- Thái độ có chủ ý đi ngược lại các chuẩn mực hay sức ép xã hội. Khác với sự độc lập ở chỗ cá nhân phản ứng với sức ép của nhóm xã hội hơn là giữ cho mình không chịu tác động của nó.
- Antipsychiatry: Phản tâm thần học
- Sự phê phán triệt để những cách tiếp cận truyền thống (đặc biệt về y học) đối với các rối loạn tâm trí. Nó chịu ảnh hưởng của thuyết hiện sinh và xã hội học, được phổ biến bởi các nhà tâm thần học người Scotland Ronald David Laing (1927-89), người Nam Phi David Graham Cooper (1931-86) và những người khác trong hai thập niên 1960 và 1970. Thuật ngữ này được dùng lần đầu trong sách “Psychiatry and anti-psychiatry” của Cooper (1967).
- Antisocial personality disorder: Rối loạn nhân cách phản xã hội
- Có đặc điểm là một mẫu ứng xử bất chấp hay xâm phạm các quyền của người khác, bắt đầu từ tuổi ấu thơ hay thiếu nhi và tiếp tục sang tuổi trưởng thành. Dấu hiệu và triệu chứng bao gồm: không tuân phục các chuẩn mực xã hội như có hành vi phi pháp lặp lại, lừa dối bịp bợm để đùa vui hay thủ lợi, cáu kỉnh và hung hăng bao gồm việc thường xuyên tấn công hay đánh lộn, bất chấp sự an toàn của bản thân hay của người khác, vô trách nhiệm thường hằng bao gồm không chịu thực hiện công việc nghề nghiệp hay tôn trọng các trách nhiệm về tài chính, thiếu ăn năn sau khi xử tệ với người khác. Cũng gọi là sociopathy hay dissocial personality disorder.
- Anxiety disorders: Các chứng rối loạn lo âu
- Một hạng rối loạn tâm trí nổi bật là sự lo âu (lo âu là một trạng thái khó chịu kèm theo sự bồn chồn và những dấu hiệu về cơ thể và những triệu chứng căng thẳng mà tiêu điểm là sợ thất bại, bất hạnh hay nguy hiểm).
Thuật ngữ bắt đầu bằng “Ap”:
- Apathy: Sự vô cảm
- Không có cảm xúc, sự quan tâm hay nhiệt tình.
- Aphagia: Sự biếng ăn
- Aphanisis: Sự mất ham muốn tính dục
- Thuật ngữ dùng trong phân tâm học, do nhà phân tâm học xứ Wales là Ernest Jones (1879-1958) đặt ra năm 1927.
- Aphasia: Khiếm khuyết ngôn ngữ
- Khiếm khuyết về diễn đạt hay hiểu ngôn ngữ, do tổn thương hay bệnh lý ở các trung tâm ngôn ngữ trong não.
- Aphrodisiac (danh/tính từ): Chất kích dục/Mang tính kích dục
- Aphemia: Sự khiếm ngữ
- Sự mất khả năng diễn đạt ý nghĩ thành lời.
- Apollonian (adj-tính từ): Thái dương tính
- Có lý tính và có kiểm soát. Trong triết học của triết gia người Đức Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844-1900), liên quan đến những phẩm chất không thay đổi của hình thức, lý trí, sự hài hoà, và tỉnh táo.
- Apoplexy: Sự đột ngột mất ý thức
- Thường kéo theo bại liệt, thường do đứt hay tắc mạch máu não.
- Apperception: Tổng giác
- Tiến trình hiểu một tri giác bằng cách tích hợp nó với những tri giác tương tự hay liên quan, hay với kiến thức thu nhận từ trước. Cũng là sự nhận biết hành động hay trải nghiệm tri giác hay tự ý thức tương phản với tri giác – lần đầu tiên sử dụng theo nghĩa này bởi nhà triết và toán học Đức Gottfried Wilhelm von Leibniz (1646-1716).
- Appetitive behaviour: Hành vi háu ăn
- Tiếng Mỹ: appetitive behavior.
- Applied psychology: Tâm lý học ứng dụng
- Thuật ngữ bao trùm nhiều ngành Tâm lý học trong đó các kết quả tìm tòi được áp dụng vào những vấn đề thực hành (Tâm lý học lâm sàng, Tâm lý học giáo dục, Tâm lý học nghề nghiệp, Tâm lý học kỹ nghệ, Tâm lý học tổ chức, Tâm lý học tội phạm, Tâm lý học sức khoẻ…).
- Approach-approach conflict: Xung đột tiếp cận-tiếp cận
- Sự lựa chọn giữa hai hay nhiều mục tiêu hấp dẫn ngang nhau (con lừa giữa hai bó cỏ). Đây là một trong ba kiểu xung đột chính được nhận dạng bởi nhà Tâm lý học Đức-Mỹ Kurt Lewin (1890-1947).
- Approach-avoidance conflict: Xung đột tiếp cận-tránh né
- Thái độ lưỡng lự giữa một mục tiêu chứa cả những nét tích cực lẫn tiêu cực. Người ta có xu hướng dao động ở một điểm gần nhưng không quá gần mục tiêu; xa mục tiêu hơn thì xu hướng lại gần mục tiêu thắng thế; gần mục tiêu hơn thì xu hướng tránh né lại thắng thế; sự quân bình diễn ra khi hai chức năng tiếp cận và tránh né giao nhau.
- Apraxia: Sự giảm hay mất khả năng hành động
- Do khiếm khuyết về hệ thần kinh thường ở bán cầu trái của não, nhưng không do bại liệt hay không hiểu. Giảm hay mất khả năng thực hiện các động tác hay cử chỉ cơ thể có mục đích cần thiết, mặc dù có vẻ không mất khả năng thực hiện chúng trong những hoàn cảnh tự nhiên (như khi phải vẫy chào ai đó).
- Aptitude: Khả năng
- Sự thích hợp, năng lực tự nhiên hay năng lực học; đặc biệt (trong tâm lý học): tiềm năng [hơn là năng lực hiện hữu] để thực hiện một nhiệm vụ hay chức năng về thể chất hay tâm trí, hoặc sự kết hợp giữa hai thứ (nếu được học hành hay huấn luyện).
- Khác với ability (năng lực): kỹ năng đã phát triển, năng lực hay sức mạnh để làm một việc; đặc biệt (trong tâm lý học): năng lực hiện hữu để thực hiện một nhiệm vụ, chức năng… mà không cần có thêm sự học hành hay huấn luyện.
Thuật ngữ bắt đầu bằng “Ar”:
- Archetype: Cổ mẫu
- Một ví dụ hoàn hảo hay tiêu biểu của loại hạng. Tên gọi khác của prototype (nguyên mẫu).
- (Trong Tâm lý học phân tích): Cấu trúc hay mẫu tâm trí được di truyền, làm thành bộ phận của vô thức tập thể, chỉ quan sát được thông qua các biểu hiện ở hành vi, đặc biệt những cấu trúc liên kết với những kinh nghiệm cổ xưa và phổ quát như sinh nở, cưới xin, tình trạng làm mẹ, và cái chết. Carl Gustav Jung (1875-1961) đưa thuật ngữ này vào từ vựng kỹ thuật của ông vào năm 1919.
- Arousal phase: Giai đoạn hứng tình
- Giai đoạn thứ hai trong chu trình phản ứng tính dục, khi sự kích thích tính dục phát triển.
- Artificial intelligence: Trí khôn (Trí tuệ) nhân tạo
- Bản thiết kế các chương trình máy tính giả định hay có thực hoặc những máy móc để làm những việc thông thường vẫn do trí óc con người làm: suy nghĩ logic, làm thơ, soạn nhạc, hay phân tích các hoá chất. Những vấn đề thách thức nhất nằm ở toan tính bắt chước các chức năng của trí khôn vốn phần lớn có tính vô thức, như những thứ liên quan đến thị ảnh và ngôn ngữ. Thuật ngữ này được kỹ sư máy tính người Mỹ John McCarthy (1927-2011) đưa vào năm 1956.
- Art therapy: Nghệ thuật liệu pháp
- Một hình thức tâm lý liệu pháp trong đó người bệnh được khuyến khích diễn đạt những cảm xúc, tình cảm và những xung đột nội tâm của mình thông qua nghệ thuật.
Thuật ngữ bắt đầu bằng “As”:
- Askable parent: Cha mẹ dễ hỏi
- Cha hay mẹ sẵn sàng trả lời những câu hỏi về tính dục của con cái. Thuật ngữ xuất hiện lần đầu trong một bài báo của nhà báo Eleanor Charles (1923-2012) trên tờ New York Times vào ngày 11/1/1981.
- Aspiration: Khát vọng
- Hi vọng, ham muốn hay tham vọng đạt được một mục đích cụ thể. Từ đó, aspirational level hay level of aspiration là mục đích, mục tiêu mà một người đặt ra cho mình phải đạt được trong tương lai.
- A-S Reaction Study: Nghiên cứu phản ứng A-S
- Một phát kiến nhằm đo đạc uy lực (Ascendance) đối nghịch với sự phục tùng (Submissiveness) trong các mối quan hệ xã hội hằng ngày. Được xây dựng bởi các nhà tâm lý học Mỹ Gordon Willard Allport (1897-1967) và Floyd Henry Allport (1890-1978) và xuất bản trong sách “The A-S Reaction Study” (1928).
- Assertiveness training: Sự huấn luyện thái độ khẳng định
- Một hình thức tư vấn hay tâm lý liệu pháp được phát triển vào năm 1949 bởi nhà tâm lý học Mỹ Andrew Salter (1914-96) trong đó mọi người học cách diễn đạt các nhu cầu, mong muốn và tình cảm của mình một cách thẳng thắn, thành thật và trực tiếp, theo một cách sao cho những người khác phải lưu tâm. Cũng gọi là assertion training.
- Assimilation: Sự đồng hoá
- (Trong các bài viết của nhà tâm lý học Thuỵ Sĩ Jean Piaget và các môn đệ của ông): một hình thức thích nghi trong đó một trải nghiệm mới được tích hợp vào các cấu trúc hay tiến trình tâm lý học đang hiện hữu, như khi một em bé phản ứng với một món đồ chơi mới được đưa vào môi trường của bé: coi nó như một vật quen thuộc, diễn giải nó trên cơ sở trải nghiệm đã qua (như một thứ để nắm, lắc, đưa vào miệng, v.v.).
- Sự bóp méo một ký ức thông qua việc làm cho nó tương tự những ký ức đã hiện hữu, một hiện tượng cũng xảy ra trong việc sao chép hàng loạt và đồn thổi tin tức.
- Xu hướng tri giác các vật thể hay hình ảnh dựa vào những đặc trưng tri giác của các vật thể và hình ảnh liền kề.
- Associationnism: Thuyết liên kết
- Một học thuyết Tâm lý học nói về sự hấp dẫn giữa các yếu tố và ý tưởng trong tâm trí, được gợi ra trong một chương nhan đề “Về sự liên kết các ý tưởng” của triết gia duy nghiệm người Anh John Locke (1632-1704) mà ông đưa thêm vào lần tái bản năm 1700 của cuốn “Essay Concerning Human Understanding – Luận về sự hiểu của con người” (xuất bản lần đầu năm 1690). Học thuyết được phát triển bởi triết gia người Scotland, James Mill (1773-1836) và con trai ông John Stuart Mill (1806-73). Theo đó, các trải nghiệm tâm trí nằm ở những cảm giác sơ khởi khi các giác quan được kích thích, và các ý tưởng là những suy nghĩ và ký ức được trải nghiệm khi không có kích thích giác quan. Các ý tưởng có xu hướng trở nên liên kết với nhau.
- Associative learning: Việc học mang tính liên kết
- Việc học những cái tình cờ xảy ra giữa các sự kiện, như trong việc điều kiện hoá. Trong việc điều kiện hoá kinh điển, đó là những sự liên kết giữa kích thích có điều kiện và kích thích không điều kiện; trong việc điều kiện hoá tác động (operant conditioning), là những liên kết giữa các đáp ứng và củng cố.
- Assortative mating: Sự cặp đôi tương đắc
- Sự ưa tìm bạn tình cùng kiểu hình, như cùng hoàn cảnh kinh tế, xã hội, trình độ trí tuệ hay sức hấp dẫn.
- Astereognosis: Sự khiếm xúc
- Mất khả năng nhận dạng hay nhận ra các vật bằng xúc giác, thường là kết quả của một thương tổn trong vùng liên kết thân cảm (somatosensory). Trái ngược với stereognosis.
Thuật ngữ bắt đầu bằng “At”:
- Ataraxia: Sự an nhiên
- Bình thản hay không âu lo.
- Atmosphere effect: Hiệu ứng bầu không khí
- Xu hướng mà một đặc trưng [nổi bật] của một cá nhân ảnh hưởng đến lối nhìn nhận của người khác đối với những đặc trưng khác của cá nhân này.
- Attachment theory: Thuyết gắn bó
- Thuyết được đưa ra vào năm 1951 bởi nhà tâm thần học người Anh Edward John Mostyn Bowlby (1907-90). Thuyết này cho rằng đứa trẻ sơ sinh có nhu cầu sinh học bẩm sinh được tiếp xúc chặt chẽ với người mẹ (hay người chăm sóc chính), một mối ràng buộc bình thường trong 6 tháng đầu đời thông qua sự đáp ứng của người mẹ với những nhu cầu này, và sự mất đi tình mẫu tử trong thời kỳ quyết định này sẽ có những hiệu quả tai hại cho sự phát triển tâm lý của trẻ.
- Attention deficit/Hyperactivity disorder: Sự suy giảm chú ý/Rối loạn tăng động
- Một rối loạn về phát triển thần kinh có ở khoảng 5% trẻ em và 2,5% người lớn, thường ở con trai nhiều hơn con gái. Đặc điểm là thường trực mất chú ý, tăng động hay bị thúc đẩy, với một số dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện trước tuổi 12. Tình trạng này tạo ra những vấn đề ở trường học, nơi làm việc hay ở nhà, và can thiệp một cách đáng kể vào việc vận hành quan hệ xã hội, học đường hay nghề nghiệp. Các triệu chứng không thể quy kết cho tình trạng mất trí năng hay chậm phát triển tổng quát.
- Attention operating characteristic (AOC): Đặc trưng điều hành sự chú ý
- Một kiểu đặc trưng về sự điều hành việc thực hiện (performance operating) được dùng trong nghiên cứu về sự chú ý. Thể hiện bằng một biểu đồ trong đó trình độ thực hiện một nhiệm vụ được biểu diễn đối chiếu với trình độ thực hiện một nhiệm vụ khác; hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời và sự chú ý chuyển đều đặn từ nhiệm vụ này sang nhiệm vụ kia.
- Attenuation theory: Thuyết giảm nhẹ chú ý
- Theo đó thông tin không được chú ý vẫn được xử lý, mặc dù với một độ nông cạn hơn là thông tin được chú ý. Cơ chế của việc xử lý này được gọi là attenuation filter (bộ lọc giảm nhẹ). Thuyết này được phát biểu vào năm 1960 bởi nhà tâm lý học người Anh sống ở Mỹ Anne Marie Treisman (sinh 1935).
- Attitude similarity hypothesis: Giả thuyết tương tầm
- Cho rằng người ta có xu hướng bị hấp dẫn về phía những ai chia sẻ thái độ và các giá trị của mình trong những địa hạt quan trọng. Giả thuyết này được nâng đỡ một cách nhất quán từ các khảo sát theo kinh nghiệm. Cũng gọi là similarity-attraction hypothesis (Giả thuyết hấp dẫn bởi thái độ).
- Attribution theory: Thuyết qui kết
- Giải thích rằng người ta nhìn nhận, suy diễn hay gán buộc các nguyên nhân cho hành vi của chính mình hay của người khác. Nghiên cứu căn bản về địa hạt này đã thiết định rằng chúng ta có xu hướng qui kết cho hành vi của người khác những nguyên nhân bên trong, có tính sắp đặt hơn là những nguyên nhân bên ngoài, mang tính tình thế, nếu như hành vi ấy dường như khác với hành vi người ta thường có trong cùng tình thế nhưng lại đặc trưng cho người được phán xét trong những tình thế tương tự hay không tương tự trong quá khứ. Nhưng nếu hành vi dường như tương tự hành vi của mọi người trong cùng tình thế nhưng không đặc trưng cho hành vi của người ấy trong quá khứ trong những tình thế tương tự hay khác biệt, thì chúng ta dễ qui kết cho nó những nguyên nhân bên ngoài. Thuyết này được phát biểu đầu tiên bởi nhà tâm lý học Mỹ gốc Áo Fritz Heider (1896-1988) trong những bài viết xuất bản năm 1944 và 1946 và trong sách The Psychology of Interpersonal Relations – Tâm lý học của các quan hệ cá nhân (1958), và được phát triển từ thập niên 1960 đặc biệt bởi các nhà tâm lý học Mỹ Edwards Ellsworth Jones (1926-93) và Harold Harding Kelley (1921-2003).
Thuật ngữ bắt đầu bằng “Au”:
- Audible thought: Ý nghĩ nghe thấy
- Ảo giác nghe thấy ý nghĩ trong đầu như được nói ra.
- Audience effect: Hiệu ứng khán giả
- Hiệu ứng của những người dự khán thụ động đối với việc thực hiện nhiệm vụ của một cá nhân. Tuỳ theo tính chất của nhiệm vụ, hiệu ứng này có thể là tích cực hoặc tiêu cực.
- Audio-oculogyric reflex: Phản xạ thính-thị
- Phản xạ quay đầu và mắt về phía một âm thanh đột ngột hay không trông đợi.
- Authoritarianism: Óc chuyên chế
- Đặc trưng nhân cách liên kết với tiềm năng đi theo chủ nghĩa phát xít, lần đầu tiên được nhận dạng vào năm 1950 bởi nhà triết học-xã hội học-tâm lý học Đức Theodor Weisengrund Adorno (1903-69) và nhiều cộng sự trong công trình đồ sộ The Authoritarian Personality (Nhân cách chuyên chế). Nó tương liên với óc bài Do Thái, lấy sắc tộc làm trung tâm, óc bảo thủ về chính trị và kinh tế, và không bao dung sự mơ hồ.
- Autism spectrum disorder: Rối loạn phổ tự kỉ
- Rối loạn về phát triển thần kinh, đặc trưng là khiếm khuyết hiển nhiên và lâu bền về tương tác và giao tiếp xã hội; các mẫu hạn hẹp và rập khuôn về hành vi, hứng thú và hoạt động; các triệu chứng có từ thuở nhỏ nhưng có thể chưa thể hiện đầy đủ như về sau trong sự phát triển xã hội, thu nhận ngôn ngữ, hay trong lúc chơi đùa; khiếm khuyết đáng kể mang tính bệnh lý trong những địa hạt khác nhau của đời sống như xã hội, nghề nghiệp…; các triệu chứng không thể qui kết cho tình trạng mất trí năng hay chậm phát triển tổng quát. Các triệu chứng có thể bao gồm việc không đáp ứng về cảm xúc, thiếu tương tác xã hội, không phát triển được các quan hệ chúng bạn, chậm hay thất bại trong phát triển lời nói, ngôn ngữ hoặc hành vi phi ngôn ngữ rập khuôn hay đặc dị, sự đơn điệu, kiểu cách riêng biệt trở thành nghi thức. Rối loạn này được mô tả lần đầu vào năm 1943 bởi nhà tâm thần học trẻ em người Mỹ gốc Áo Leo Kanner (1894-1981) và năm 1944 bởi nhà tâm thần học người Áo Hans Asperger (1906-80).
- Auto-erotism: Sự tự thoả tính dục
- (Trong phân tâm học): Một hình thức đặc trưng của hành vi trong tuổi ấu nhi, trong đó một bản năng được thoả mãn mà không cần đến một đối tượng bản năng bên ngoài. Từ này lần đầu được dùng bởi nhà tính dục học người Anh Havelock Ellis (1859-1939) trong sách Studies in the Psychology of Sex – Các nghiên cứu về Tâm lý học tính dục, trong đó ông định nghĩa nó như cảm xúc tính dục tự phát mà không có kích thích bên ngoài dù trực tiếp hay gián tiếp từ người khác. Cũng gọi là auto-eroticism.
- Autogenic training: Sự huấn luyện tự sinh
- Một hình thức tâm lý liệu pháp trong đó người bệnh được hướng dẫn tự thôi miên và phản hồi sinh học (biofeedback) như những kỹ thuật quản lý stress. Bao gồm một chuỗi bài tập tâm trí (lần lượt tập trung vào cảm giác nặng ở tứ chi, ấm ở tứ chi, nhịp tim, hơi thở, ấm ở bụng trên, mát ở trán) nhằm thúc đẩy sự thư giãn về thể chất. Được phát triển ở Đức từ thập niên 1930 đến thập niên 1950 và phổ biến bởi nhà tâm thần học và thần kinh học người Đức Johann Heinrich Schultz (1884-1870). Cũng gọi là autogenics.
- Autogynephilia: Sự tự nữ hoá
- Một tâm thức tà dâm, đặc trưng là sự nổi hứng tình dục của người nam khi nghĩ mình là một người nữ.
- Automatism: Hành vi tự động
- Hành vi thực hiện không có ý thức hay kiểm soát, như trong mộng du, thôi miên, những trạng thái mất nhận biết về tính cách bản thân (fugue states) hay một số hình thức mất nhận thức (epilepsy).
- Automnesia: Sự nhớ lại bột phát
- Những ký ức từ thời kỳ trước đây của cuộc đời bột phát sống lại.
Thuật ngữ bắt đầu bằng “Av”:
- Aversion therapy: Liệu pháp gây khó chịu
- Một kỹ thuật trong liệu pháp hành vi (behaviour therapy) được sử dụng để triệt tiêu những thói quen không mong muốn như hút thuốc lá, bằng cách lặp đi lặp lại những kích thích khó chịu hoặc đau đớn đi đôi với hành vi ấy như sốc điện hay gây ra những đáp ứng như buồn nôn (dùng các loại thuốc chống nghiện – antabuse).
- Avoidance-avoidance conflict: Xung đột tránh né-tránh né
- Xung đột nổi lên từ sự có mặt đồng thời hai hay nhiều mối đe doạ ngang bằng nhau. Đây là một trong ba kiểu xung đột chính được nhận dạng vào năm 1931 bởi nhà Tâm lý học Đức-Mỹ Kurt Lewin (1890-1947). Những xung đột này có xu hướng bền vững và không được giải quyết, vì sự tiếp cận về phía một trong hai cực làm tăng xu hướng lui về cực kia, và do đó sự sợ hãi hay lo âu được giảm thiểu ở một điểm mà khoảng cách giữa hai cực là lớn nhất.
- Avoidance conditioning: Sự điều kiện hoá bằng phản ứng tránh né
- Trong sự điều kiện hoá tác động (operant conditioning), là một hình thức củng cố tiêu cực trong đó một cơ thể tránh né một kích thích gây khó chịu bằng cách có đáp ứng cụ thể. Điển hình là con chuột được đặt trong một lối đi dài và hẹp, sàn có lưới sắt truyền điện gây giật vài giây sau khi có một kích thích có điều kiện như một chớp sáng, và con chuột có thể tránh kích thích gây đau đớn bằng cách chạy về cuối lối đi và đi vào một cái hộp không bị truyền điện trong thời gian giữa tín hiệu và cú giật. Trong sự điều kiện hoá bằng phản ứng tránh né chủ động (active avoidance conditioning), cơ thể phải có đáp ứng tích cực nhằm tránh kích thích gây khó chịu, còn trong sự điều kiện hoá bằng phản ứng tránh né bị động (passive avoidance conditioning), nó phải nhịn việc đáp ứng nhằm tránh kích thích ấy. Cũng gọi là avoidance learning (học tránh né).
- Avoidance personality disorder: Rối loạn nhân cách tránh né
- Đặc trưng là một mẫu phổ biến của tình trạng ức chế xã hội, cảm thấy bất cập, và quá mẫn đối với sự phê bình, không công nhận hay khước từ. Bắt đầu từ tuổi mới lớn, với những dấu hiệu và triệu chứng như tránh làm công việc có sự tiếp xúc liên cá nhân đáng kể; không muốn liên kết với mọi người trừ những người mình thích; hạn chế các quan hệ thân mật vì sợ xấu hổ hay dị hợm; nặng lòng với sự phê bình hay khước từ; ức chế trong những tình huống xã hội mới vì cảm thấy bất cập; tự nhìn mình như lạc lõng, không hấp dẫn, kém cạnh người khác; không sẵn sàng tham dự những hoạt động có nguy cơ khiến mình lúng túng. Cũng gọi là anxious personality disorder (rối loạn nhân cách lo âu).
- Avolition: Sự mất ý chí
- Mất khả năng khởi sự hay duy trì những hoạt động có mục đích; một trong các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt.