556. Facework: (việc) Giữ thể diện, diện kiến tương tác
– Trong tương tác xã hội, một tập hợp hành vi chiến lược nhằm duy trì cả tư cách bản thân và tư cách của người đối tác, đối thoại. Bao gồm sự lịch thiếp, chiều ý, khéo léo, tránh những chủ đề khó khăn, và sử dụng nửa-sự thật và lời nói dối vô hại (“white lies”).
– Tương tác mặt đối mặt giữa những người dấn thân vào kinh doanh, chính trị, ngoại giao và những hoạt động có mục tiêu. Những tương tác này có thể bao gồm trao đổi nhỏ và trò chuyện cá nhân cũng như thảo luận nghị trình chính thức.
557. Facial feedback hypothesis: Giả thuyết phản hồi qua vẻ mặt
Giả thuyết cho rằng biểu hiện trên mặt liên kết với một cảm xúc cụ thể có xu hướng sinh ra cảm xúc ấy. Từ một nhận xét của nhà tự nhiên học người Anh Charles Robert Darwin (1809-82) trong sách The Expression of the Emotions in Man and Animals (Biểu hiện cảm xúc ở người và động vật) (1872), nhà Tâm lý học Mĩ William James (1842-1910) nhấn mạnh rằng các biểu hiện cơ thể thực sự gây ra cảm xúc (trong thuyết James-Lange). Những nghiên cứu gần đây cho thấy cả kích thích điện với các cơ mặt để gây ra biểu hiện nhân tạo cũng như việc tạm thời làm tê liệt cơ mặt bằng cách tiêm Botox đều tác động tới cảm xúc. Trong một bài viết trên tờ Journal of Personality and Social Psychology – (Tập san Nhân cách và Tâm lý học xã hội) (1988), nhà Tâm lý học Đức Fritz Strack (1950-) và 2 đồng nghiệp chỉ ra rằng ngay cả việc cắn 1 cây bút bên cạnh miệng làm cho miệng bị ép thành tư thế gần như mỉm cười cũng có xu hướng gây ra cảm xúc tích cực.
558. Facial vision: Cái nhìn bằng cảm giác mặt
Sự nhận biết các vật trở ngại mà không nhìn thấy, nơi những người mù, thường cảm thấy như một cảm giác xúc giác ở vùng mặt; các thí nghiệm cho thấy có thể giải thích bằng những sóng âm dội lại và hoàn toàn do thính giác trung chuyển. Triết gia Pháp Denis Diderot (1713-84) trong một lá thư viết năm 1749, đầu tiên qui cho đầu dây thần kinh mặt, nhưng các thí nghiệm sau đó xác lập rằng điều này là nhờ sự định vị bằng tiếng vang (echolocation).
559. Factitiuos disorder: Rối loạn giả cách
Một rối loạn tâm trí có đặc trưng là một mẫu liên miên những triệu chứng giả cách và/ hoặc những tổn thương tự gây ra để làm như rối loạn, mà không có một tình trạng thể chất hay tâm trí được xác nhận, và không có bất kì động cơ kinh tế hay sự khuyến khích nào từ bên ngoài. Động cơ là được chữa trị, được nhập viện, hay đóng vai người ốm để được phẫu thuật.
560. Failure neurosis: Chứng loạn thần kinh thất bại
Thuật ngữ được giới thiệu bởi nhà phân tâm học Pháp René Laforgue (1894-1962) để nói một lớp rối loạn có đặc trưng là hành vi có vẻ tính toán nhằm đem hoạ đến cho bản thân và không có năng lực chấp nhận những điều mà mình ham muốn mãnh liệt. Hội chứng này là sự mở rộng và đi sâu vào những ý tưởng thoạt tiên được Sigmund Freud (1856-1939) đưa ra trong bài viết “Vài kiểu tính cách gặp được trong công việc phân tích tâm lí”. Cũng gọi là failure syndrome (hội chứng thất bại).
561. Face-ism: “Chủ nghĩa” diện biểu
Xu hướng được qui kết cho ngành quảng cáo và những phương tiện truyền thông thị giác về biểu trưng nam giới bằng gương mặt (tượng trưng cho tính chất trí tuệ) nhưng nữ giới thì được biểu trưng bằng toàn bộ thân thể (tượng trưng cho tính chất gợi cảm). Đó cũng là một hình thức sexism (duy giới tính).
562. Fad: Thời thượng nhất thời
Một sự thay đổi có đời sống ngắn trong dư luận, hành vi hay lối sống của một số đông người ở các thành phần khác nhau. Quá bận tâm với hàng hoá, điệu nhảy, chương trình tivi và thời trang mới, có thể được coi là fad khi nhiều người nhanh chóng chạy theo nhưng cũng nhanh chóng hết hứng thú. Fad thường thuộc về những vấn đề vụn vặt, nên biến mất mà không để lại tác động lâu dài với xã hội. Những fad cực phi lí, đắt tiền hay lan toả rất rộng gọi là crazes (khùng).
563. Faith healing: (sự) Chữa trị bằng niềm tin
– Việc chữa bệnh thể xác hay tâm lí bằng những thực hành tôn giáo, như cầu nguyện hay đặt tay lên người. Tín đồ tin rằng sự chữa trị có hiệu quả ngay cả khi người được chữa trị không biết và cũng không có niềm tin.
– Bất cứ hình thức chữa trị không chính thống nào mà hiệu quả được nói là phụ thuộc vào niềm tin của người bệnh đối với diễn trình chữa bệnh (xem Placebo effect: hiệu ứng giả dược). Trong những trường hợp ấy, hiệu quả có thể được qui kết cho một diễn trình tâm-thân (psychosomatic) hơn là phi thường (paranormal) hay siêu nhiên.
564. Faking: (sự) Giả tạo
Thói quen của một số người tham dự đo nghiệm đánh giá hay đo nghiệm Tâm lý học, hoặc (a) “fake good” (giả tốt) bằng cách chọn những đáp án tạo cảm tưởng thuận lợi, chẳng hạn khi một cá nhân ứng tuyển việc làm; hoặc “fake bad” (giả xấu) bằng cách chọn những đáp án khiến cho mình có vẻ bối rối hay không có năng lực, chẳng hạn khi một cá nhân mong muốn trốn lính hay muốn được coi là không có năng lực chịu hình phạt trong vụ án hình sự.
565. False cause: Giả nguyên nhân
Một kiểu nguỵ biện (fallacy) không chính thức hay kĩ thuật thuyết phục trong đó một chuỗi sự kiện theo thời gian được coi là chuỗi nhân quả. Vì B đi theo A nên A là nguyên nhân của B. Cũng gọi là Post hoc ergo propter hoc.
566. False-consensus effect: Hiệu ứng đồng thuận giả
Một hình thức đồng hoá có đặc trưng là xu hướng đánh giá quá mức mức độ mọi người chia sẻ những niềm tin, thái độ và hành vi của bản thân. Trong tri kiến xã hội và qui kết xã hội, mọi người có xu hướng cho rằng đáp ứng của chính mình thì phổ biến hơn là trong thực tế và coi những đáp ứng thay thế khác là không phổ biến, sai lệch hay không thích đáng. Khái niệm này được giới thiệu và đặt tên bởi nhà Tâm lý học Canada Lee David Ross (1942-) và 2 đồng nghiệp trong bài viết trên tờ Journal of Experimental Social Psychology (Tập san Tâm lý học xã hội thực nghiệm) năm 1977.
567. False memory: Giả kí ức
Sự nhớ lại có vẻ rõ rệt điều gì đó không thực sự trải nghiệm, đặc biệt việc lạm dụng tính dục trong thời thơ ấu, thường xuất hiện từ sự gợi ý được cài cắm trong quá trình tư vấn hay trị liệu tâm lí. Một ví dụ kinh điển, mặc dù không liên quan đến tư vấn hay trị liệu tâm lí, là kí ức bị bắt cóc (theo Piaget). Cũng gọi là pseudo-memory hay pseudomnesia.
568. Famous names test: Đo nghiệm tên danh nhân
Một kĩ thuật đo đạc kí ức lâu dài và cung cấp bằng chứng cho chứng mất trí nhớ. Người tham dự được giới thiệu những tên danh nhân trong một số thời kì ở nhiều thập kỉ trước, và được yêu cầu ghi nhớ họ nổi tiếng vì cái gì.
569. Fan effect: Hiệu ứng quạt
Xu hướng thời gian cần có để nhớ lại một thực kiện về một khái niệm sẽ tăng lên theo số lượng thực kiện được biết về khái niệm ấy. Hiệu ứng được tìm thấy trong sự nhớ lại những thể loại kiến thức khác nhau, cũng như trong sự nhận ra gương mặt, và có thể có phần trách nhiệm trong việc chậm nhớ theo tuổi tác. Khái niệm thoạt tiên được tường trình vào năm 1974 bởi nhà Tâm lý học Mĩ gốc Canada John Robert Anderson (1942-), ông thực hành một thí nghiệm trong đó người tham dự cố nhớ một danh sách 26 câu về người và địa điểm, như “một chàng trai trong công viên”, “một luật gia trong hầm rượu”… Mỗi nhân vật (khái niệm) liên kết với 1,2 hay 3 vị trí và thêm vào đó, mỗi vị trí liên kết với 1,2 hay 3 nhân vật… Sự nhớ lại được đo nghiệm bằng cách yêu cầu người tham dự nhặt ra những câu đích từ một danh sách trong đó các câu mà họ đã học được pha trộn với những câu ghép nhân vật và vị trí theo sự phối hợp mới. Kết quả cho thấy thời gian nhớ lại câu đích là 1,19 giây nếu khái niệm (nhân vật) chỉ có 1 thực kiện (vị trí); 1, 28 giây nếu có 2 thực kiện; 1,30 giây nếu có 3 thực kiện.
570. Fantasy thinking: Tư duy phóng tưởng
[trong Tâm lý học phân tích] Một hình thức tư duy dựa trên sự phóng tưởng liên quan đến hình tượng, cảm xúc, và trực giác, không có bó buộc về logic hay đạo lí. Nó liên quan chặt chẽ với diễn trình nguyên thuỷ của phân tâm học, và xảy ra trong các giấc mơ và thần thoại; có sự tranh luận về việc gọi là một hình thức tư duy. Carl Gustav Jung (1875-1961) tương phản nó với tư duy trực tiếp
571. False self: Nguỵ bản ngã
Trong Lí thuyết về các quan hệ với đối tượng (Object Relations Theory) của nhà phân tâm học Anh Donald Winnicot (1896-1971): cái bản ngã phát triển một sự phòng vệ chống lại các va chạm, ảnh hưởng và để thích nghi với môi trường. Tương phản với “chân bản ngã” (true self) là cái phát triển trong một môi trường thích nghi với đứa trẻ và cho phép nó khám phá ra và thể hiện những xung động chân thực của mình.
572. Fantaisy: (sự) Phóng tưởng
– Một trong những trải nghiệm và diễn trình tâm trí được đánh dấu bởi sự hình dung sống động, cảm xúc mạnh mẽ, và sự giãn ra hoặc vắng mặt của logic. Các trải nghiệm này có thể là ý thức (do đó nằm dưới sự kiểm soát của cá nhân) hay vô thức ở các mức độ khác nhau. Phóng tưởng là thông thường và phổ biến và thường phục vụ một mục đích lành mạnh (giảm căng thẳng, vui thú và giải trí, kích thích sự sáng tạo). Nó cũng có thể là chỉ dấu của bệnh tật, như trong suy tưởng lừa dối hay thoát li thực tại.
– (trong lí thuyết phân tâm học): Điều do óc tưởng tượng nguỵ tạo: hình ảnh trong tâm trí, giấc mơ đêm hay mơ ngày trong đó những mong muốn và xung động có ý thức hay vô thức được thực hiện.
573. Far sense: Viễn giác
Một trong các giác quan như thị giác hay thính giác được trung gian bởi những cơ quan tiếp nhận từ xa (telereceptor) cho phép động vật hay người tri giác các vật hay sự kiện từ xa.
574. Fate control: (sự) Kiểm soát số phận
Trong lí thuyết liên lập (Interdependence Theory) của các nhà Tâm lý học Mỹ Harold Harding Kelley (1921-2003) và John Walter Thibaut (1917-86) trong những sách Tâm lí xã hội Nhóm (The Social Psychology of Groups, 1959) và Các quan hệ liên cá nhân: một lí thuyết về liên lập (Interpersonal Relations: a Theory of Interdependence, 1978), một tình huống liên cá nhân liên quan đến 2 người, A và B, trong đó “bằng cách biến hoá điều mình làm, B có thể làm biến hoá thành quả của A. Chúng tôi mô tả điều này là fate control (FC) vì A đã có sự kiểm soát tuyệt đối số phận của B”. Viết tắt: FC.
575. Fate neurosis: Chứng loạn thần nghiệp chướng
Trong phân tâm học, là hội chứng lặp lại những sự cố không vui trong cuộc đời, những xui xẻo kì lạ tương tự nhau. Được thảo luận bởi Sigmund Freud (1856-1939) vào năm 1920 trong sách Vượt qua nguyên lí khoái lạc (Beyond the Pleasure Principle), trong đó ông đưa ra những ví dụ về những người làm nhiều việc tốt nhưng luôn luôn bị đáp bằng sự vô ơn hay xui xẻo, những người luôn bị bạn bè phản thùng, và những trường hợp tương tự, và ông giải thích đó là biểu hiện của chứng loạn thần bức bách lặp lại (repitition compulsion). Thuật ngữ do Freud đặt là Schicksalzwang (fate compulsion – bức bách nghiệp chướng) hơn là Schicksalneurose (fate neurosis – loạn thần nghiệp chướng), nhưng thuật ngữ sau trở nên qui ước trong cả tiếng Đức và tiếng Anh.
576. Father complex: Phức cảm về người cha
(trong phân tâm học) Tính nước đôi trong tình cảm của đứa con trai với người cha, một trong các yếu tố của phức cảm Oedipus.
577. Father-ideal: Người cha lý tưởng
(trong phân tâm học) Thành tố người cha trong cái tôi lý tưởng (ego-ideal) được hình thành thông qua sự đồng nhất với cha mẹ.
578. Father surrogate: Thế phụ
Người thay thế người cha, thực hiện những chức năng điển hình của người cha, đối tượng của sự đồng nhất và gắn bó. Cũng gọi là father figure; surrogate father
579. Fattism: (thái độ) Bài phì
Sự kì thị đối với người béo, hay khuynh hướng châm chọc họ. Thuật ngữ được đặt bởi nhà Tâm lý học Mĩ Rita Jackaway Freedman (1940-) trong sách Tình yêu thân thể (Bodylove, 1988). Cũng gọi là fatism.
580. Fatuos love: Tình cuồng
Một kiểu tình yêu có đặc trưng là đam mê và tận tuỵ về dâm dục nhưng thiếu sự thân mật trong tình cảm.
Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 57) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024