541. Experimenter effect: Hiệu ứng thí nghiệm
Một trong hai kiểu thiên kiến trong thí nghiệm: (a) các sai lạc về phía người thí nghiệm do sự trông mong của người này về kết quả nghiên cứu (b) do các tác động của người tham dự vì những đặc trưng của người này, như tuổi tác, giới tính, sắc tộc hay ngôn ngữ…
542. Exposure therapy: Liệu pháp phơi bày
Một hình thức liệu pháp hành vi có hiệu quả trong điều trị chứng lo âu. Cho người bệnh đối đầu một cách hệ thống với một kích thích gây sợ hãi, có thực hay tưởng tượng. Nó tác động bằng (a) việc tập làm quen: sự phơi bày lặp đi lặp lại sẽ làm giảm dần, đi đến tiêu diệt nỗi lo âu; (b) phủ nhận những tiên đoán gây lo sợ; (c) gia tăng cảm thức tự tin và làm chủ. Liệu pháp phơi bày có thể bao quát một số sự can thiệp về hành vi, bao gồm desensitizication (làm mất nhạy cảm), flooding (làm tràn ngập), implosive therapy (liệu pháp nội bộc) một cách hệ thống, và các kỹ thuật tiêu diệt.
543. Expressive therapy: Liệu pháp biểu đạt
– Một hình thức liệu pháp tâm lí trong đó người bệnh được khuyến khích kể hết về các vấn đề của mình và biểu đạt cởi mở những cảm nhận của mình.
– Bất kỳ liệu pháp nào dựa vào những phương pháp không dùng ngôn từ (như mĩ thuật, vũ, chuyển động) để làm dễ dàng thay đổi.
544. Extended suicide: (sự) Tự tử mở rộng
Việc giết người-tự tử trong đó cả việc giết người và tự tử đều phản ánh diễn trình tự tử. Cá nhân thoạt tiên giết những người được nhìn nhận như là một phần của căn cước của mình hay là cái bản thân mở rộng, rồi tự tử.
545. Exteriorization: Chuyển ra bên ngoài, Ngoại hiện
– Hành động liên hệ các cảm nhận bên trong của mình với thực tại bên ngoài, khách quan.
– Biểu lộ ra bên ngoài những ý nghĩ riêng tư.
546. Externalization: (sự) Ngoại qui
[trong phân tâm học]: Một cơ chế phòng vệ trong đó một người qui kết một cách vô thức những xung động nội tâm cho thế giới bên ngoài, như khi một đứa trẻ chuyển sự tức giận vô thức hay xung động hung hãn thành nỗi sợ ma quỉ trong bóng đêm. Một hình thức phổ cập của nó là sự phóng chiếu (projection).
547. External validity: Hiệu lực ngoại quan
Mức độ chân thực còn giữ được của các kết luận khảo sát theo kinh nghiệm khi sử dụng những phương pháp nghiên cứu và người tham dự nghiên cứu khác. Thuật ngữ cũng được sử dụng để chỉ concurrent validity (hiệu lực đồng qui) hay predictive validity (hiệu lực tiên liệu) được thiết lập bằng cách tham chiếu một tiêu chí bên ngoài.
548. Exteroception: Cảm giác bên ngoài
Bất kì hình thức cảm giác nào từ kích thích nằm bên ngoài cơ thể và được phát hiện bởi các cơ quan tiếp nhận bên ngoài (exteroceptor), bao gồm thị giác, thính giác, xúc giác hay áp lực, nóng, lạnh, đau, mùi, vị.
549. Extra-sensory perception: Tri giác ngoại cảm
Thuật ngữ chung cho những hiện tượng dị thường mang tính phỏng đoán mà tập san Journal of Parapsychology (Tập san Cận tâm lí) định nghĩa là có dính líu đến trải nghiệm về hay đáp ứng với một vật đích, một trạng thái, sự kiện hay ảnh hưởng không có sự tiếp xúc bằng giác quan, từ đó có tri giác mà không sử dụng giác quan, thường được chia thành clairvoyance (thấu thị), telepathy (thần giao cách cảm), precognition (tiên tri). Nó thường được định nghĩa là tri giác chưa được khoa học giải thích, nhưng diễn giải này được tránh khi sử dụng một cách thận trọng, vì nó bao quát những kiểu tri giác không nhất thiết là ngoại cảm hay dị thường, (chẳng hạn) cho rằng thị kiến hồng ngoại của rắn đuôi kêu là một hình thức tri giác ngoại cảm trước khi được giải thích vào những năm 1930, việc sử dụng biosonar (siêu âm sinh học) ở loài dơi trước khi được giải thích vào năm 1941, và việc sử dụng sao trời để hướng đường bay của các loài chim đêm trước giữa thập niên 1950…
550. Extraversion: (tính) Hướng ngoại
Một trong 5 nhân tố nhân cách lớn (Big Five personality factors) đi từ extraversion (đặc trưng như tính dễ giao tiếp và quyết đoán) đến extreme introversion (cực hướng nội: đặc trưng là khép kín và thụ động). Khái niệm introversion/ extraversion được giới thiệu vào năm 1910 bởi Carl Gustav Jung (1875-1961). Cũng gọi là surgency.
551. Extrinsic interest: (sự) Quan tâm, lợi ích ngoại tại
Sự dấn thân vào một nhiệm vụ hay hành vi được kích thích bởi niềm tin rằng thực hiện nó một cách hiệu quả sẽ đem đến phần thưởng hay phòng ngừa sự trừng phạt, hơn là thoả mãn bên trong (nội tại) (intrinsic satisfaction) do thực hiện tốt nhiệm vụ vì lợi ích tự thân của nó.
552. Extrinsic religion: Tôn giáo ngoại tại
Định hướng tôn giáo trong đó tôn giáo chủ yếu là phương tiện cho những mục đích khác, như phúc lợi xã hội hay cá nhân, hơn là mục đích tự nó (giới thiệu bởi Gordon W.Allport)
553. Eye-hand coordination: (sự) Điều hợp mắt-tay
Vận hành hài hoà của mắt và bàn tay trong việc nắm bắt và mò tìm đồ vật và thực hiện các nhiệm vụ chuyên biệt. Vào độ 6 tháng tuổi, phần lớn trẻ có thể nắm bắt một vật trong tầm tay, mặc dù việc sử dụng đầy đủ ngón cái thì sau đó mới phát triển vào khoảng từ 8 đến 12 tháng tuổi.
554. Eye-movement desensitization and reprocessing: (việc) Giải mẫn cảm và tái xử lí mắt-chuyển động
Một hình thức liệu pháp tâm lí thoạt đầu nhắm trị chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương tâm lí (PTSD) và đôi khi áp dụng cho những rối loạn lo âu khác. Khi áp dụng cho PTSD, người bệnh thoạt tiên được yêu cầu thị hiện hay nhớ lại trải nghiệm chấn thương một cách sống động nhất và nói thành lời, như tôi cảm thấy mình sắp chết, tóm tắt tác động tâm lí của nó. Sau đó người bệnh định mức độ lo âu của mình theo thang 0-10 SUD (Subjective Units of Distress – các đơn vị trầm cảm chủ quan) và đưa ra một tuyên bố tích cực tóm tắt một đáp ứng mong muốn đối với tình huống tưởng tượng, như tôi có thể sống sót, và định mức độ tin tưởng vào mong muốn ấy theo thang 0-8 của Hiệu lực Thức nhận (Validity of Cognition). Sau những bước chuẩn bị ấy, người bệnh tập trung nhìn vào một vật và theo dõi chuyển động của nó khi người chữa trị di chuyển nó đi đi lại lại theo các nhóm 12-14 chuyển động sang hai bên trước mặt người bệnh, với nhịp khoảng 2 chuyển động một giây. Sau mỗi nhóm chuyển động, người bệnh được yêu cầu xoá sạch thị ảnh hoặc kí ức, hít vào sâu, và xem lại định mức SUD và Hiệu lực Thức nhận. Diễn trình này tiếp tục cho đến khi mức SUD giảm xuống dưới 2 và Hiệu lực Thức nhận lên trên 6. Kĩ thuật này được phát triển vào năm 1987 và giới thiệu vào năm 1989 bởi nhà Tâm lý học Mĩ Francine Shapiro (1948-), người tình cờ phát hiện thấy chuyển động đi đi lại lại của con mắt làm giảm sự lo âu của chính mình. Viết tắt: EMDR.
555. Eyewitness misinformation effect: Hiệu ứng lệch lạc thông tin của chứng nhân
Hiện tượng thông tin lệch lạc sau sự kiện có tác động bóp méo sự nhớ lại sự kiện của chứng nhân, như khi nạn nhân một vụ tấn công tính dục sau đó được nghe kể rằng có một nghi phạm bị bắt trên cánh tay trái có hình xăm, thế là người ấy tin rằng mình nhớ có nhìn thấy hình xăm trên cánh tay kẻ tấn công mình. Hiệu ứng có thể là do thông tin sau sự kiện đè lên kí ức đầu tiên, hay chứng nhân trở nên lầm lẫn về nguồn các thông tin khác nhau mà kí ức đầu tiên không nhất thiết bị khiếm khuyết. Các diễn trình này được nghiên cứu một cách hệ thống đầu tiên bởi các nhà Tâm lý học Mĩ Elizabeth F. Loftus (1944-) và John Palmer (1954-), họ đã tường trình các phát hiện của mình trên tờ Journal of Verbal Learning and Verbal Behavior (Tập san Học và Hành vi Ngôn từ) năm 1974, và hiệu ứng được thảo luận dài trong sách Eyewitness Testimony (Lời chứng mắt thấy) của Loftus năm 1979. Trong thí nghiệm gốc, người tham dự xem một video ghi lại cảnh 2 chiếc xe hơi đâm nhau, và được hỏi rằng 2 xe đi với tốc độ thế nào khi chúng va chạm hay đâm xầm vào nhau. Khi từ đâm xầm được dùng, những người tham dự nhìn chung đoán tốc độ của xe là 7 dặm/giờ nhanh hơn so với tốc độ được đoán khi dùng từ va chạm, và 1 tuần sau đó, khi từ đâm xầm được dùng, thì có 32% người tham dự nhớ sai là có hình ảnh kính xe vỡ so với 14% người tham dự nhớ như thế khi từ va chạm được dùng.
Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 55) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024