610. Flashbulb memory: Kí ức chớp loé
Một kí ức bất thường sống động, giàu chi tiết và lâu bền về những hoàn cảnh xung quanh một sự kiện kịch tính. Ví dụ tiêu chuẩn là vụ ám sát Tổng thống Mĩ John F. Kennedy năm 1963: phần lớn mọi người lớn vào thời ấy có kí ức chớp loé về việc họ ở đâu và làm gì khi nghe tin ấy. (Được gọi tên như thế vì kí ức kiểu này mang tính chủ quan về điều được ghi lại chớp nhoáng như bởi máy ảnh có đèn chớp, mặc dù nghiên cứu cho thấy trong thực tế nó thường ít tính xác thực hoàn hảo).
611. Flight into fantasy: (sự) Trốn chạy vào phóng tưởng
Một phản ứng phòng vệ trong đó cá nhân có những suy nghĩ và bức xúc khó chịu rút vào phóng tưởng (như thông qua các giấc mơ ngày) như cách tránh làm hại chính mình hay người khác vì hành động bởi bức xúc. Theo cách này họ có thể duy trì sự kiểm soát các bức xúc của mình.
612. Flight into health: (sự) Trốn chạy vào tình trạng khoẻ mạnh
(trong Phân tâm học) Lời người bệnh tuyên bố đột ngột là mình đã hoàn toàn bình phục và không cần trợ giúp nữa, được diễn giải như một phản ứng phòng vệ đối với liệu pháp tâm lí. Thuật ngữ dựa trên khái niệm gốc “flight into illness” (trốn chạy vào tình trạng bệnh tật)
613. Flight into illness: (sự) Trốn chạy vào tình trạng đau ốm
Một toan tính thoát ra khỏi những tình cảm hay xung đột không thể chấp nhận bằng cách phát triển các triệu chứng bệnh thần kinh, tâm bệnh hay thân-tâm bệnh. Thuật ngữ này bắt nguồn từ phân tâm học: Sigmund Freud (1856-1939) nói đến tình trạng “trốn chạy vào tâm bệnh” (flight into psychosis) vào năm 1894, rồi tình trạng “trốn chạy vào tình trạng bệnh thần kinh” (flight into neurotic illness) vào năm 1908, và cuối cùng, “trốn chạy vào tình trạng đau ốm” (flight into illness) vào năm 1909.
614. Flight into history: (sự) Trốn chạy vào lịch sử
(trong liệu pháp tâm lí và tham vấn) Xu hướng trú ngụ cực đoan trong quá khứ, được diễn giải như một phản ứng phòng vệ đối với nỗi đau và sự bối rối gợi ra bởi hiện tại. Thuật ngữ được đặt theo hình mẫu của “flight into illness”.
615. Flight into reality: (sự) Trốn chạy khỏi thực tại
Một phản ứng phòng vệ bao hàm việc rút lui vào tình trạng không hoạt động, tách biệt, hay phóng tưởng, như một sự phòng vệ vô thức chống lại các tình huống gây lo âu. Có thể biểu hiện thành một số hành vi phòng vệ, như hợp lí hoá, mơ ngày, hay lạm dụng chất gây nghiện. Có thể bao gồm sự rút vào hành vi mang tính tâm bệnh như cách tránh né các vấn đề có thực hay tưởng tượng. Cũng gọi là retreat from reality (rút lui khỏi thực tại).
616. Flight into reality: (sự) Trốn chạy vào thực tại
Một phản ứng phòng vệ trong đó một cá nhân trở nên quá vướng víu vào hoạt động và làm việc như biện pháp vô thức để tránh né những tình huống đe doạ hay những suy tưởng hay cảm thức đau đớn.
617. Flooding: (sự) Tràn ngập
Một kỹ thuật liệu pháp hành vi (behaviour therapy) dùng để chữa trị rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lí, chứng ám sợ, và những rối loạn lo âu khác, bằng cách cho người bệnh đối mặt cao độ với tình huống gây lo âu cho đến khi sự lo âu giảm bớt.
618. Foot-in-the-door technique: Kĩ thuật thò-một-chân-vào-cửa
Một kĩ thuật khơi gợi sự chiều ý bằng cách thoạt tiên đưa ra một yêu cầu nhỏ trong yêu cầu lớn mà mình mong muốn, để người được yêu cầu dễ chấp nhận. Kĩ thuật được giới thiệu và đặt tên vào năm 1966 bởi các nhà Tâm lý học Mĩ Jonathan L. Freedman (1937-) và Scott Cameron Fraser (1943-), các ông tường thuật một thí nghiệm thực địa: đến thăm nhà các bà chủ nhà, một số bà được hỏi có bằng lòng cho dán một phù hiệu rất nhỏ trên cửa kính nhà hay xe hơi kêu gọi giữ gìn vẻ đẹp của California hay không, một số khác được đề nghị kí tên vào một kiến nghị về vấn đề như thế; 2 tuần sau, một người khác, được cho là từ một tổ chức khác, đến hỏi những bà chủ nhà ấy xem họ có bằng lòng cho chôn một tấm biển Lái xe cẩn trọng trong vườn nhà hay không. Trong nhóm đối chứng đã không được đưa ra đề nghị nhỏ lúc đầu, chỉ có 17% bằng lòng, trong khi 55% trong số có sự “thò-một-chân-vào-cửa” bằng lòng.
619. Forced compliance: (sự) Chiều ý ép uổng.
Nhân nhượng áp lực xã hội để đưa ra một phát biểu hay hành xử theo cách xung đột với thái độ của bản thân. Theo thuyết bất hoà thức nhận (cognitive dissonance), hành vi như trên có xu hướng giảm bớt sự bất hoà giữa hai thức nhận Thái độ của tôi là X và Thái độ của tôi là chống X. Thức nhận thứ hai được cắm chốt trong ứng xử và không dễ thay đổi một khi phát biểu đã được nói lên hay hành động đã thực hiện, nhưng thức nhận đầu tiên có thể và thường thay đổi. Thuyết bất hoà thức nhận tiên đoán và đã được nghiên cứu xác nhận, rằng sự thay đổi thái độ có xu hướng nhiều nhất khi việc biện minh cho hành vi phản thái độ là nhỏ nhất – chẳng hạn khi người ta được lợi ít ỏi về mặt tài chính cho việc đó.
620. Foreclosure: (sự) Chặn trước
(trong phân tâm học) Cơ chế phòng vệ được nhận dạng đầu tiên năm 1956 bởi nhà phân tâm học Pháp Jacques Lacan, liên quan đến việc trục xuất một cái biểu thị căn bản, như thể dương vật là cái biểu thị căn bản của phức cảm bị thiến (castration complex), khỏi vũ trụ của một người. Nó có thể là cơ chế phòng vệ chuyên biệt của tâm bệnh và khác với sự dồn nén trong chừng mực cái biểu thị bị chặn trước không tích nhập vào vô thức của người ấy và không tái xuất từ bên trong như một triệu chứng bệnh thần kinh mà có thể trở lại dưới hình thức một ảo giác tâm bệnh. Ý tưởng này có thể là từ một bài viết năm 1894 của Sigmund Freud (1956-1939) trong sách “Các bệnh tâm-thần kinh về phòng vệ”: “Tuy nhiên, có một loại phòng vệ mạnh mẽ và thành công hơn. Ở đây, cái tôi bác bỏ ý nghĩ không thích đáng cùng với hiệu ứng của nó và hành xử như thể ý nghĩ ấy chưa hề xảy ra với cái tôi”.
621. Focal attention: (sự) Chú ý tập trung
Sự chú ý tập trung vào kích thích chuyên biệt trong khi bỏ qua những kích thích khác. Thông tin nằm trong phạm vi chú ý (attention span) được coi là ở trong sự chú ý tập trung. Nhiều nghiên cứu được dành để xác định dung lượng thông tin tập trung và hiểu được nó tương tác ra sao với các hệ kí ức khác nhau sau khi dung lượng của nó đã hết.
622. Focusing: (sự) Tập trung chú ý
(trong liệu pháp tâm lí thực nghiệm (Experiental Psychological Therapy) Một liệu trình trong đó người chữa trị hướng dẫn người bệnh tập trung chú ý lặng lẽ vào trải nghiệm trên cơ thể về một vấn đề hay triệu chứng theo một cách thư giãn và không phán xét, thường là trong khi nhắm mắt. Sau đó người bệnh mời gọi tâm trí mình khai thác một cách trực giác xem vấn đề ấy là gì, mà không toan tính phân tích hay kiểm soát các diễn trình suy tư. Phương pháp được tin là dẫn người bệnh tới những cảm nhận sâu hơn và sự thấu hiểu lớn hơn và bình an với vấn đề hay triệu chứng. [được phát triển bởi nhà Tâm lý học Mĩ gốc Áo Eugene T. Gendlin (1926-)]
623. Folk psychology: Tâm lý học dân gian
– Kiến thức hằng ngày, theo lẽ thường, ẩn tàng, khiến cho ta có thể dự đoán hay giải thích hành vi của người khác (và của bản thân) bằng sự tham chiếu những trạng thái tâm lí liên quan. Mặc dù sự hiểu như thế được chấp nhận phần nhiều ở Tâm lý học xã hội và cá nhân, có những người thấy nó là ảo giác hay huyền hoặc, không có giá trị khoa học. Trong thuyết Eliminativism (Loại trừ), thuật ngữ “folk psychology” được dùng theo lối mỉa mai đối với mọi ngôn ngữ giải thích tham chiếu các trạng thái tâm lí, như niềm tin và chủ đích, hơn là các trạng thái sinh học.
– Một nhánh trong hệ thống Tâm lý học của Wilhem Wundt, tin rằng một sự hiểu về các tiến trình tâm trí cao cấp có thể được diễn dịch từ việc nghiên cứu những sản phẩm văn hoá như ngôn ngữ, lịch sử, huyền thoại, nghệ thuật, và phong tục… Như thế, nó là tiền thân lịch sử của Tâm lý học văn hoá (Cultural Psychology) hiện đại.
624. Food addiction: (tật chứng) Nghiện ăn uống
Rối loạn về ăn uống có đặc trưng là quá bận tâm với hình ảnh cơ thể và cân nặng của bản thân, những suy nghĩ ám ảnh về thực phẩm, dùng thức ăn như nguồn khoái cảm, và bị thôi thúc phải ăn uống. Thêm nữa, cá nhân mắc tật chứng có thể trải nghiệm những triệu chứng cai nghiện trong thời kì cố gắng giảm ăn hay nhịn một số kiểu thực phẩm.
625. Forensic psychology: Tâm lý học pháp lí
Một lĩnh vực Tâm lý học ứng dụng dành cho những khía cạnh tâm lí của các tiến trình pháp lí tại toà án. Thuật ngữ ngày càng được áp dụng cho cả Tâm lý học tội phạm (criminological psychology), mặc dù sự phái sinh của từ forensic gợi ra một nghĩa hạn chế hơn.
626. Formal operation: Thao tác hình thức (logic)
(trong thuyết phát triển thức nhận của nhà Tâm lý học Thuỵ Sĩ Jean Piaget (1896-1980) Giai đoạn phát triển bắt đầu từ khoảng 12 tuổi khi đứa trẻ trở nên thành thạo vận dụng những biểu trưng nội tâm của các khái niệm trừu tượng cũng như của các vật cụ thể.
627. Formal thought disorder: Rối loạn tư duy hình thức (logic)
Một kiểu rối loạn tư duy có đặc trưng là sự phá vỡ hình thức hay cấu trúc của tư duy. Ví dụ như sự sai trật (derailment) hay tiếp cận hời hợt (tangentiality). Nên phân biệt với Rối loạn tư duy (Thought Disorder) là rối loạn về nội dung tư duy*.*
628. Forward association: (sự) Liên kết tới
Sự liên kết học được giữa một kích thích và một kích thích khác hay một đáp ứng xảy ra sau đó về thời gian.
629. Four goals of education: Bốn mục tiêu giáo dục
Đam mê học, đam mê sống, đam mê một xã hội rộng lớn hơn, và ý chí phát triển những khía cạnh độc đáo của nhân cách riêng. [theo phát biểu của nhà giáo dục Mĩ Marilyn Whwerry].
630. Free association: (sự) Liên tưởng tự do
Một kĩ thuật phân tâm học trong đó người bệnh được khuyến khích kể lại với nhà phân tích mọi suy nghĩ, cảm nhận, ước muốn, cảm giác, kí ức, và hình ảnh hiện ra trong óc, bất kể chúng có thể có vẻ gây bối rối hay vụn vặt. Được thiết kế để làm mất khả năng xảy ra sự kiểm duyệt thứ hai (second censorship) giữa cái tiền ý thức (preconscious) và ý thức, do đó phơi bày những sự phòng vệ vô thức thông qua sự kiểm duyệt đầu tiên (first censorship) giữa cái vô thức và cái tiền ý thức. Sigmund Freud (1856-1939) bộc lộ trong bài “Ghi chú về tiền sử của kĩ thuật phân tích” (A Note on the Prehistory of the Technique of Analysis) năm 1920, rằng ông đã chịu ảnh hưởng bởi nhà văn châm biếm Ludwig Borne (1786-1837), ông này khuyến cáo một hình thức viết văn bắt đầu bằng việc viết ra mọi thứ hiện lên trong óc, nhằm tránh sự tự kiểm duyệt và gia tăng tính nguyên gốc. Việc phát triển kĩ thuật này có công của Frau (Bà) Emmy von N, một trong những người bệnh đầu tiên của Freud, như ông kể lại vào năm 1895 trong sách Các nghiên cứu về bệnh Hysteria (Studies on Hysteria) mà ông là đồng tác giả, bà đã yêu cầu ông “đừng cứ hỏi bà chuyện này hay chuyện kia từ đâu ra, mà để bà kể cho nghe những gì bà phải kể”, và khi bà theo liệu trình ấy, lời bà thành ra chứa đựng “một sự tái tạo hoàn toàn những kí ức và ấn tượng mới vốn tác động đến bà kể từ lần trò chuyện mới nhất, và thường dẫn đến, theo một cách hoàn toàn bất ngờ, những hồi tưởng bệnh căn mà bà tự mình giải toả không cần ai yêu cầu”. Cùng khoảng thời gian ấy (1904) và độc lập với Freud, Carl Jung (1875-1961) giới thiệu “đo nghiệm liên tưởng từ ngữ” (word-association test) của ông, cũng chịu ảnh hưởng của việc phát triển kĩ thuật liên tưởng tự do.
Nguồn: Hoàng Hưng 2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 62) | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam)
Lưu ý: Các thuật ngữ trên đã được dịch giả Hoàng Hưng đề xuất, sửa đổi cách dịch tốt hơn trong cuốn Thuật ngữ Tâm lí học Anh-Việt-Đức-Pháp ,NXB Tri Thức, 2024